Phunhai's Blog

Vương cung thánh đường PHÚ NHAI

VƯƠNG CUNG THÁNH ĐƯỜNG ĐỨC MẸ PHÚ NHAI

Posted by phunhai trên 07/04/2011

Nằm trên địa phận xã Xuân Phương thuộc huyện Xuân Trường, Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Phú Nhai là một trong những công trình tôn giáo nổi tiếng nhất của Giáo phận Bùi Chu, được xây dựng từ năm 1881 trên một diện tích khá rộng lớn.

Nguyên vào năm 1858 tức 10 năm sau khi giáo phận Bùi Chu được thành lập, các cộng đoàn Công giáo Việt Nam nói chung và giáo phận Bùi Chu nói riêng đang rơi vào một hoàn cảnh bi đát, việc giữ đạo và truyền giáo gặp nhiều khó khăn và thử thách. Cũng vào thời điểm này, tại Lộ Đức (Lourde – Pháp), Đức Mẹ đã hiện ra với một thiếu nữ tên Bernadette và xưng mình là Đấng vô nhiễm nguyên tội. Giám mục giáo phận Bùi Chu lúc bấy giờ là Valentino Berrio Ochoa Vinh đã cùng với linh mục Emmanuel Riano Hòa cầu nguyện cùng Đức Mẹ Vô Nhiễm và dâng ý nguyện khi tình hình bình yên trở lại, Giáo phận sẽ tuyên nhận Đức Mẹ làm bổn mạng và xây dựng mội ngôi đền thờ xứng đáng để tôn kính Người.

a

Trước lời cầu xin khẩn thiết và sốt sắng của các đấng bậc và đoàn chiên đang dần tan tác, Đức Mẹ đã khấng nhậm lời. Tuy giám mục Vinh đã tử đạo năm 1861 (được phong hiển thánh ngày 19-6-1988) nhưng linh mục Hòa cũng đã được đưa lên hàng giám mục vào năm 1868. Nhớ lời đoan hứa năm xưa, ngài đã cùng linh mục Isaac Barquero Ninh xây dựng ngôi đền kính Đức Mẹ Vô Nhiễm vào năm 1881 tại Phú Nhai và công bố việc nhận Đức Mẹ làm bổn mạng của Giáo phận. Ngài cũng đã cho tổ chức trọng thể lễ mừng kính tước hiệu “Đức Mẹ Vô Nhiễm” vào ngày 8-12 hàng năm và kêu gọi các đấng bậc, con dân của giáo phận tập trung về Phú Nhai vào dịp này để mừng kính và tạ ơn Đức Mẹ.

a

Do ngôi đền ban đầu được xây dựng trong hoàn cảnh kinh tế còn eo hẹp, chưa được như lòng mong ước nên đến năm 1916, giáo quyền đã có kế hoạch xây dựng một ngôi đền thờ lớn hơn. Sau 7 năm xây dựng đã hoàn tất vào năm 1923 và được Giám mục Bùi Chu Munagori Trung khánh thành vào dịp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8-12-1923). Đáng tiếc là cơn bão ngày 30-9-1929 đã làm sụp đổ công trình này.

a

Với sự giúp đỡ của các giáo phận trong cả nước và sự đóng góp tích cực của giáo dân trong giáo phận, công trình tái thiết đã được tiến hành ngay. Sau 4 năm nỗ lực, ngôi đền thờ mới nguy nga mang phong cách kiến trúc Gothique Pháp đã được hoàn thành năm 1933, với chiều dài 88m, rộng 27m, cao 30m và hai ngọn tháp cao 44m. Tại hai ngọn tháp có đặt 4 quả chuông là sản phẩm được đặt đúc từ Pháp với trọng lượng lần lượt là 2.000kg, 1.200kg, 600kg và 100kg.

a

 

 

Trải qua gần 80 năm hiện diện với bao biến động của thiên nhiên và thời cuộc, đền thánh đã qua nhiều lần tu sửa, lớn nhất là vào năm 1990 nhưng về đại thể vẫn không có gì thay đổi. Vinh dự đã đến với Đền thánh Đức Mẹ Phú Nhai khi nơi đây được nâng lên hàng Vương cung Thánh đường – một danh hiệu tôn vinh đặc biệt mà vị đứng đầu Giáo hội ban tặng cho một số nhà thờ do tính cách cổ kính hoặc có tầm quan trọng trong lịch sử phát triển của giáo hội.

Tưởng cũng nên biết, Việt Nam hiện có 4 nhà thờ được nhận danh hiệu cao qúy này, đó là Tiểu Vương cung Thánh đường La Vang (Tổng giáo phận Huế, bằng sắc chỉ “Magno Nos” ngày 22-8-1961), Vương cung Thánh đường Đức Bà Sài Gòn (Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, bằng sắc chỉ “Spectabile Monomentum” ngày 13-11-1962), Tiểu Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Phú Nhai (giáo phận Bùi Chu – Tháng 8-2008) và Vương cung Thánh đường Sở Kiện (Tổng giáo phận Hà Nội – được thông báo từ cuối tháng 4-2010).

Mai Kim Thành

Ảnh: nguồn tnttvn.com

(http://www.aseantraveller.net/introduce/news/341)

Advertisements

Posted in Văn hoá | Leave a Comment »

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội – 08 tháng 12

Posted by phunhai trên 07/04/2011

I. TIẾN TRÌNH TÍN ĐIỀU MẸ VÔ NHIỄM THAI

Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội từ thuở đầu thai, nói tắt là “Đức Mẹ vô nhiễm thai”. “Thai” nói đầy đủ là “thụ thai” (conception). Thụ thai phân biệt ra thụ thai chủ động (active conception) là việc người mẹ hoài thai đứa con, và thụ thai thụ động (passive conception) là việc người con được thụ thai. Do đó, khi nói đến Immaculate Conception là không phải nói đến Thánh Anna thụ thai Đức Trinh Nữ Maria, hay là Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Chúa Giêsu, nhưng là nói đến Đức Trinh Nữ Maria “được thụ thai, hay là được dựng thai, hoặc là đầu thai” trong lòng Thánh Anna. Cũng có khi người ta chỉ nói “Đức Mẹ Vô nhiễm” thì hiểu là “Đức Mẹ Vô nhiễm từ thuở đầu thai” hay là “Đức Mẹ đầu thai vô nhiễm” hoặc là “Đức Mẹ Vô nhiễm thai”.

Vấn đề “Đức Mẹ Vô nhiễm thai” thoạt tiên là một hạt giống được giấu ẩn trong kho mạc khải Thánh kinh và Thánh truyền, rồi trải qua niềm tin của Giáo hội biến thành Nụ Tín lý. Nhưng Nụ Tín lý trải qua nhiều chông gai, nhiều sương tuyết lạnh lùng, nhờ sự diễn giải của các Thánh Giáo phụ, các nhà thần học và sự phán quyết của Thẩm quyền Giáo hội mới nở tươi thành Tín điều.

Xét về phương diện tiến triển, Tín điều “Đức Mẹ Vô nhiễm thai” đã trải qua một tiến trình rất phức tạp, nhưng được giản lược qua 3 giai đoạn: giai đoạn trầm lặng, giai đoạn tranh luận, và giai đoạn xác nhận.

A. Giai đoạn trầm lặng từ thế kỷ I đến thế kỷ XI

Thánh kinh chỉ có kiểu nói mặc nhiên ẩn tàng về vấn đề Vô nhiễm, nên trong những thế kỷ đầu, Giáo hội chưa khám phá ra. Tuy nhiên, từ thời các Thánh Tông đồ qua thời các Thánh Giáo phụ trong những thế kỷ đầu, một ít tia sáng “Vô nhiễm” đã loé lên, nhưng chỉ trong phạm vi cá nhân. Năm 416 Công đồng Carthage và Công đồng Mileviô ở Bắc Phi lên án Pelagiô và Coelestiô chối tội nguyên tổ, mà không đề cập gì đến trường hợp của Đức Mẹ. Năm 431 Công đồng Êphêsô ở Tiểu Á cùng với Thánh Cyrillô Alexanđria luận phi bè rối Nestoriô, để tuyên tín Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, lòng sùng kính Đức Mẹ dâng lên cao và tràn lan ra xa rộng. Giáo hội cũng chỉ xác nhận sự trinh trong tuyệt đối của Mẹ. Khi người ta bàn luận về vấn đề tội lỗi, Thánh Augustinô không muốn liên tưởng đến Đức Mẹ. Tư tưởng tiêu cực này đã nên như qui luật cho các Giáo phụ thời đó. Bên Đông phương, người ta nồng nhiệt sùng kính phúc vinh quang Mẹ Thiên Chúa, mà không xác định rõ. Đến thế kỷ VII, bốn vị Giáo hoàng: Đức Honoriô I, Đức Thánh Martinô I, Đức Thánh Agathô, và Đức Thánh Lêô II làm loé lên một vài tia sáng nhưng vẫn ở trong phạm vi hạn hẹp.

B. Giai đoạn tranh luận từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV

Thế kỷ XII, nhà thần học Eadmer sử gia của Thánh Anselmô tại Canturbury (Anh) viết cuốn “Yếu luận về sự đầu thai thánh thiện của Đức Maria” để minh xác ý nghĩa đặc ân làm nền tảng cho Tín lý Vô nhiễm. Eadmer lý luận sâu sắc về việc Mẹ được đặc ân Vô nhiễm với ba lời có tính cách Cách ngôn: Potuit, Decuit, Fecit, nghĩa là Thiên Chúa có thể làm; nếu Người muốn thì Người đã làm. Cũng thời đó, văn sĩ Osbertô Clare đầu tiên vận động truyền bá giáo thuyết này. Đông phương đã mừng lễ Mẹ đầu thai từ thế kỷ VII, nhưng Tây phương mừng lễ này thế kỷ XII. Dẫu thế, một bức màn đen vẫn trùm phủ vấn đề Vô nhiễm, đến nỗi bốn vị Thánh tiến sĩ Bênađô, Albertô, Bônaventura, Tôma, và hai nhà thần học nổi danh Rupertô và Alexanđrô Halès cho rằng Đức Mẹ cũng mắc luật lưu truyền nguyên tội như mọi người dòng dõi Ađam. Thánh Tôma chỉ nói Đức Maria được thánh hoá trong lòng mẹ. Về sau, các ngài mới bỏ tư kiến để thuận theo sự phán quyết của các Đức Giáo hoàng và niềm tin của Giáo hội.

Hai luồng tư tưởng nghịch và thuận vấn đề Vô nhiễm lan tràn sâu rộng gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai trường phái Tôma và Scôtô tại Avignon (Pháp) năm 1325. Phe thuận là trường phái Scôtô có luận cứ vững mạnh, nên được Đức Gioan XXII tán thành, và được Đại học Paris yểm trợ. Năm 1346 tại phân khoa Thần học Đại học này, không ai được đậu cử nhân, tiến sĩ, nếu không tuyên thệ phải ủng hộ giáo thuyết Vô nhiễm. Sau này hai Đại học Cologne và Mayence noi gương Đại học Paris cũng có qui chế như thế. Còn một cuộc tranh luận khác không kém gay go về vấn đề Vô nhiễm. Phe chống gây ảnh hưởng sâu rộng nhất là miền Bắc Ý, nhưng sau cũng thuận theo, nhờ thái độ cương quyết của Đức Sixtô IV.

C. Giai đoạn xác nhận từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX

Năm 1377 cuộc Đức Mẹ mạc khải với Thánh Brigitta được Đức Grêgôriô XI thẩm tra và xác nhận là chân thật. Đức Mẹ nói với Thánh Brigitta: “Đúng sự thật là Mẹ đầu thai vô nhiễm. Hỡi ái nữ của Mẹ. Con hãy tin và thấy rằng những ai tin và tuyên xưng Mẹ đã được gìn giữ khỏi vết nhơ tội tổ là họ nghĩ đúng. Ai nghĩ ngược lại là sai, nhất là họ nghĩ càn giỡ”. Năm 1431, Công đồng Basel (Thụy sĩ), công bố một sắc lệnh như sau: “Chúng tôi xác định và tuyên ngôn rằng Đức Trinh Nữ Maria, do đặc ân Thiên Chúa giữ gìn, không bao giờ nhiễm lây vết nhơ nguyên tội, nhưng luôn luôn thánh thiện và vô nhiễm”.

Đức Sixtô IV là vị Giáo hoàng đầu tiên minh nhiên xác định vấn đề Vô nhiễm bằng cách ban hành mười sáu Hiến chế về Mẹ Maria Vô nhiễm. Trong số đó, mười hai Hiến chế ban ân xá, bốn Hiến chế thiết lập và củng cố lễ Mẹ Vô nhiễm trong khắp Giáo hội.

Năm 1545, Công đồng Trentô do Đức Phaolô III triệu tập, công bố sắc lệnh có ba khoản nói về Mẹ Vô nhiễm:

1. Đức Maria được miễn trừ khỏi luật chung của Nguyên tội.

2. Đức Maria được gọi là Vô nhiễm. Ý nghĩa danh từ này phải được xác định là khỏi mọi vết nhơ, mà vết nhơ là Nguyên tội. Do đó, gọi Mẹ là Vô nhiễm vì Mẹ đầu thai vô nhiễm nguyên tội.

3. Các Hiến chế của Đức Sixtô IV phải được tôn trọng.

Năm 1567 Đức Thánh Piô V ban hành ba văn kiện về Mẹ Vô nhiễm. Văn kiện thứ nhất luận phi những lầm lạc của Baius cho rằng tin Đức Mẹ vô nhiễm thai là rối đạo.

Đức Clêmentê VIII ca ngợi, khích lệ và cho phát hành cuốn giáo lý do Thánh Bellarminô soạn, trong đó có câu:

H. Đầy ơn phúc nghĩa là gì?

T. Đức Mẹ đầy ơn phúc, vì Người không hề mang vết nhơ tội lỗi, dù là Nguyên tội hay hiện tội, tội trọng hay tội hèn.

Đức Grêgôriô XV ban hành sắc lệnh có một điều đáng chú ý:

Những ai phủ nhận Đức Mẹ Vô nhiễm phải tuyệt đối im lặng, vì sinh gương mù và chia rẽ giữa Giáo hội. Mẹ Maria đầu thai mà mắc tội là điều xúc phạm đến niềm tin của tín hữu. Tuy nhiên, được giữ tư kiến cho mình, vì vấn đề chưa được chính thức xác định.

Đức Alexanđrô VII là vị Giáo hoàng quan trọng thứ nhì sau Đức Piô IX trong việc định tín Mẹ Vô nhiễm. Trọng sắc “Sollicitudo Omnium Ecclesianum” của ngài có ba điều quan trọng:

1. Niềm tin Mẹ Maria Vô nhiễm là quan điểm đạo đức (Pia sententia).

2. Sự đầu thai nói về Mẹ Maria có nghĩa là Vô nhiễm.

3. Ngài giải thích các sắc lệnh của các vị tiền nhiệm xác nhận Mẹ Vô nhiễm.

Năm 1830, Đức Mẹ hiện ra ban cho Thánh Catarina Labouré tại Paris lời nguyện vắn tắt: “Lạy Mẹ Maria Vô nhiễm nguyên tội, xin cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi chạy đến cùng Mẹ”.

Đức Grêgôriô XVI, vị tiền nhiệm của Đức Piô IX, đã dọn đường rất gần để tiến tới việc định tín. Ngài ban phép cho 133 giáo phận và hội dòng thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: “Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông, cầu cho chúng con”. Sau này Đức Piô IX mới ấn định câu này trong kinh cầu Đức Bà cho khắp Giáo hội. Lòng sùng kính Mẹ Vô nhiễm đặc biệt của ngài ảnh hưởng sâu rộng trong Giáo hội. Từ năm 1840 đến 1844 có 86 đơn thỉnh nguyện xin định tín của các Hồng y, Giám mục nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức, và Trung Hoa, và năm 1849 thêm các đơn thỉnh nguyện của Công đồng Baltimore, Hoa kỳ.

Đức Piô IX đã được Thiên Chúa tuyển chọn để định tín Mẹ Vô nhiễm thai, nên lịch sử gọi ngài là Giáo hoàng của Mẹ Vô nhiễm. Từ năm 1846 đến 1849 có thêm 130 đơn thỉnh nguyện, nên ngài quyết tâm tiến hành:

Ngày 1-6-1848 ngài triệu tập Hội đồng Tư vấn gồm các nhà thần học nổi danh, với sứ mệnh thẩm xét vấn đề. Hội đồng Tư vấn biểu quyết tâu xin định tín.

Ngày 22-12-1848 một Hội đồng Tiền chuẩn bị gồm tám Hồng y và năm cố vấn họp tại Naples dưới quyền chủ toạ của Đức Hồng y Lambruschini. Hội đồng tâu xin Đức Thánh Cha gửi một thông điệp cho các Giám mục xin cầu nguyện và hỏi ý kiến.

Ngày 2-2-1849 Đức Thánh Cha liền ban hành Thông điệp “Ubi Primum”. Ngài nhận được 603 thư hồi âm tâu xin định tín hoặc xin tùy sự quyết định của Đức Thánh Cha. Với đủ yếu tố trong tay, Đức Piô IX họp Cơ mật viện gồm các Hồng y để quyết định lần cuối cùng và ngài viết Thông điệp “Ineffabilis Deus”.

D. Tuyên tín

Ngày 8-12-1854, tại đại đền Thánh Phêrô, trước mặt 54 Hồng y, 42 Tổng Giám mục, 92 Giám mục, 300 các viên chức sắc gồm cả ngoại giao đoàn, cùng với chừng 50,000 linh mục, tu sĩ, và giáo dân từ nhiều quốc gia, Đức Piô IX trịnh trọng tuyên bố thông điệp bất hủ “Ineffabilis Deus”, và với một giọng cương quyết oai nghiêm, ngài tuyên tín: “Do uy quyền của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, và của riêng Ta, Ta xác nhận, tuyên ngôn và định tín rằng: Rất Thánh Trinh Nữ Maria từ phút đầu thai đã được gìn giữ Vô nhiễm khỏi mọi vết nhơ nguyên tội, do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân thế. Tín lý này đã được Thiên Chúa mạc khải. Do vậy, tất cả mọi tín hữu phải tin kiên vững”.

Đức Thánh Cha vừa dứt lời, tức thì bài thánh ca “Te Deum” cùng với âm nhạc và tiếng chuông đại đền thánh Phêrô vang lên trầm hùng, biểu lộ niềm phấn khởi hân hoan từ ngàn vạn con tim dào dạt sung sướng trước bước vinh quang của Mẹ Vô nhiễm. Đồng thời, bên ngoài, từng loạt đại bác tại lâu đài Thiên thần nổ vang trời, nhịp với chuông tất cả các đền thờ thành Rôma đổ hồi ngân vang reo mừng Mẹ. Các lâu đài, dinh thự và tất cả các tư gia đều kéo cờ tưng bừng, và đêm đến thì trưng đèn rực sáng để ghi dấu một biến cố vinh quang cho Mẹ Vô nhiễm và vẻ vang cho toàn thể Giáo hội.

Sau bốn năm, năm 1858, Đức Mẹ hiện ra với Thánh Bernađetta tại Lộ Đức nước Pháp. Mẹ xưng mình “Ta là Đấng Vô nhiễm thai” để xác nhận điều tuyên tín của Đức Piô IX.

Năm 1846 công đồng giáo tỉnh Baltimore cung hiến Giáo hội Hoa Kỳ cho Đức Mẹ Vô nhiễm. Và đền thánh Mẹ Vô nhiễm bổn mạng toàn quốc đã được xây cất tại Washington, D.C. Tại Việt Nam, từ năm 1855 đến năm 1862 dưới triều vua Tự Đức, việc cấm đạo khủng khiếp ác liệt hơn hết. Riêng giáo phận Bùi Chu và Hải Phòng đã có trên 2,000 người chết vì đạo. Bởi vậy, các thừa sai Tây Ban Nha tại Giáo phận Bùi Chu khấn dâng giáo phận cho Đức Mẹ Vô nhiễm và khấn hứa Đức Mẹ ban ơn bình an, giáo phận sẽ dâng kính Đức Mẹ một đền thờ rộng lớn. Quả thật đến năm 1888, phong trào cấm đạo chấm dứt. Nhưng mãi đến năm 1916 Giáo phận Bùi Chu mới khởi công kiến thiết đền thờ Đức Mẹ Vô nhiễm đồ sộ nguy nga kiểu Gothic bậc nhất Đông Dương tại Phú Nhai gần Bùi Chu, tới năm 1923 mới khánh thành, năm 1929 bị bão đổ, và năm 1933 được trùng tu uy hùng cho tới ngày nay.

Trải qua nhiều khó khăn sau bao thế kỷ, và nhờ ánh sáng của Chúa Thánh Linh qua Thánh kinh và Thánh truyền, Giáo hội đã đính thêm viên bích ngọc “Vô nhiễm” sáng chói trên vương miện Thiên Mẫu của Mẹ Maria. Chúng ta hãy vui mừng cảm tạ Chúa và Giáo hội, cách riêng Đức Sixtô IV và Đức Piô IX. Với hết tình ngoan thảo, chúng ta hãy hoan hỉ ca mừng chúc tụng Mẹ Vô nhiễm, đặc biệt trong dịp lễ tôn vinh Người.

II. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Đông phương đã mừng lễ Mẹ Vô nhiễm từ thế kỷ VII. Bên Tây phương, Osbertô Clare, một văn sĩ và thi sĩ người Anh, tiên phong vận động mừng lễ Mẹ Vô nhiễm tại Anh hồi thế kỷ XII. Từ Anh lễ này lan nhanh sang Normandie và toàn nước Pháp rồi sang Ý. Năm 1215 các giáo phận nước Pháp được Đức Innocentê III ban phép đầu tiên mừng lễ Mẹ đầu thai. Quãng năm 1241 hay 1242, vì lý do chính trị do Vua Philippe II nước Pháp, Đức Bonifaciô VIII dời giáo triều xuống thành Anagni là nguyên quán của ngài và mừng lễ Mẹ đầu thai tại nhà thờ chính toà. Năm 1263, Đại Công hội Dòng Phanxicô tại Pise (Ý) ấn định mừng lễ này trong toàn dòng. Đến đời Đức Clêmentê V, vì ảnh hưởng của Vua Philippe II, ngài đặt giáo đô tại Avignon (Pháp). Cả giáo triều mừng lễ Mẹ đầu thai ngày mồng 8 tháng 12 tại nhà thờ Dòng Carmelô. Từ đây, hằng năm giáo triều mừng lễ Mẹ đầu thai và tiếp tục khi trở về Rôma, các Đức Giáo hoàng cũng đích thân tham dự. Năm 1385, sử gia Bellemer và mấy năm sau sử gia Francis Martin còn thấy Đức Giáo hoàng, các Hồng y, Giám mục mừng lễ Mẹ đầu thai tại nguyện đường trong điện Vaticanô.

Thời đó lễ Mẹ đầu thai chỉ có ý nghĩa suông là Đức Mẹ đầu thai thánh thiện trong lòng Bà Thánh Anna. Vấn đề Vô nhiễm chưa được đưa ra khảo sát, và Toà thánh cũng chưa xét đến điểm tín lý.

Năm 1325 tại Avignon, Đức Gioan XXII chứng giám cuộc tranh luận sôi nổi giữa các linh mục Dòng Phanxicô và Dòng Đaminh về vấn đề Vô nhiễm. Chung cuộc, ngài tuyên bố luận cứ bên Phanxicô đáo lý hơn và có ưu thế hơn, nên ngài truyền dạy mừng lễ Mẹ đầu thai rất trọng thể tại nguyện đường của ngài, nhưng ngài không xác định vấn đề Vô nhiễm. Công đầu tiên thiết lập lễ Mẹ Vô nhiễm là Đức Sixtô IV, một tu sĩ Phanxicô. Năm 1476, ngài dạy Lêonardô Nogarolis soạn kinh lễ với tuần tám. Ngày 27-2-1477, ngài ban hành Trọng sắc “Cum prae-celsa” long trọng thiết lập lễ Đức Mẹ Vô nhiễm. Ngày 4-10-1480, Đức Thánh Cha ban hành Đoản sắc “Libenter” chuẩn nhận Giờ kinh và Bài lễ Mẹ Vô nhiễm do cha Bernadino de Bustis, OFM, soạn thảo.

Năm 1482 và 1483 nổi lên những phản ứng tại miền Lombardy, Bắc Ý, tuyên truyền rằng tin và chủ trương Đức Mẹ Vô nhiễm thai là rối đạo, Đức Sixtô IV ban hành thêm hai Tiền và Hậu đoản sắc “Grave nimis” để chặn đứng luồng tư tưởng lầm lạc đó.

Đức Lêô X tán thành và xác nhận những văn kiện của Đức Sixtô IV. Với Trọng sắc “Sacrosanctae”, ngài truyền dạy nước Balan mừng lễ Mẹ đầu thai như ở Rôma, và ban phép Giáo hội Tây Ban Nha tổ chức lễ Mẹ Vô nhiễm nửa đêm ngày 8 tháng 12. Đức Thánh Piô V truyền dạy toàn thể Giáo hội mừng lễ Mẹ đầu thai. Giờ kinh ngày lễ thì lấy giờ kinh lễ Sinh nhật Mẹ, và đặt chữ “Đầu thai” thay chữ “Sinh nhật”. Riêng Dòng Phanxicô được dùng giờ kinh Bài lễ của Nogarolis đời Đức Sixtô IV.

Các Đức Giáo hoàng Sixtô V, Grêgôriô XV, Clêmentê IX, Bênêđictô XIV, Clêmentê XIII, Clêmentê XIV, Piô VI, và Đức Piô VII ban phép mừng lễ Mẹ Vô nhiễm cho từng quốc gia, từng giáo phận, từng dòng tu. Riêng Đức Grêgôriô XVI trong vòng mười năm ban phép cho 211 giáo phận và dòng tu mừng lễ Mẹ Vô nhiễm, và thêm danh từ “Vô nhiễm” vào kinh Tiền tụng lễ Mẹ đầu thai. Đức Clêmentê XI, với trọng sắc “Commissioni nobis” năm 1708 truyền dạy lễ Mẹ Vô nhiễm là lễ buộc trong khắp Giáo hội.

Đức Piô IX, ngày 30-9-1847, ngài ký sắc lệnh của Thánh bộ Lễ nghi ban phép đọc Giờ kinh và Bài lễ Mẹ Vô nhiễm cho chính ngày lễ và cả tuần tám, bắt đầu cho giáo phận Rôma và hai năm sau cho toàn thể Giáo hội. Năm 1863 là sau chín năm định tín Mẹ Vô nhiễm, ngài qui định Giờ kinh và Bài lễ Mẹ Vô nhiễm “Gaudens Gaudebo – Tôi sẽ hớn hở vui mừng” như ta thấy ngày nay.

III. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ

Giáo hội đã tuyên tín Mẹ Maria đầu thai vô nhiễm và long trọng mừng lễ Mẹ Vô nhiễm để cảm tạ Chúa Ba Ngôi rất thánh đã tiền định tuyển chọn Mẹ với một đặc ân lạ lùng, chuẩn bị cho phẩm chức và sứ mạng của Mẹ, đồng thời để ngợi khen chúc tụng Mẹ cao sang hơn mọi bậc thần thánh và toàn thể loài người.

Giáo hội long trọng mừng lễ Mẹ Vô nhiễm với năm lý do thần học theo Thánh Tôma:

1. Nếu lúc nào đó mắc tội, Mẹ Maria không xứng đáng là Mẹ Thiên Chúa, vì “cha mẹ là sự hãnh diện của con” (xem Cn 17:6). Do đó, nếu Mẹ mắc nguyên tội, ánh vinh quang của Chúa bị lu mờ trước mặt các thần thánh.

2. Giữa Chúa Giêsu và Mẹ có một mối liên hệ chặt chẽ. Chúa và Mẹ cùng một vinh quang, nên Mẹ cần phải sạch mọi tội lỗi, nhất là nguyên tội.

3. “Cha đã cho con việc xử án” (Ga 5:22). Nếu Mẹ Maria sa phạm tội lỗi hoặc nguyên tội, thì theo đức Công bằng, Chúa phải xử án luận phạt Mẹ. Nhưng có lẽ nào Chúa để Mẹ sa phạm để đoán phạt Người!

4. Thánh Phaolô gọi thân xác chúng ta vì ô nhiễm nguyên tội là thân xác tội lỗi (Rm 6:6). Nếu Mẹ mắc nguyên tội, thân xác Mẹ sẽ là thân xác tội lỗi, thì làm sao xứng với thân xác Chúa Giêsu ngôi hiệp với bản tính Thiên Chúa?

5. Vẻ đẹp của Mẹ “mười phân vẹn mười” luôn luôn và mãi mãi đẹp. Mẹ đẹp từ lúc đầu thai và luôn mãi đẹp. Trước khi sinh ra, sau khi sinh ra, không một tuổi nào, không một lúc nào trong đời Mẹ, mà Mẹ không luôn luôn hoàn toàn đẹp đẽ.

IV. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ

Bài đọc I: Sáng thế 3:9-15, 20

Đoạn văn này ám chỉ Mẹ Maria là Tân Evà. Các Thánh Giáo phụ từ Thánh Giustinô nhìn thấy trong thánh truyện Truyền tin sự phản ngược quá trình tội lỗi trong vườn địa đường. Bà Evà là mẹ chúng sinh, vì nghe mưu chước con Rắn hoả ngục đã lỗi phạm giới răn Thiên Chúa ăn trái cấm và trao cho ông Ađam cùng ăn. Tội phạm này đã làm cho ông bà phải khiếp sợ, xấu hổ, và nhận chìm toàn thể loài người xuống hố đoạ trầm. Trái lại, Đức Trinh Nữ Maria là Tân Evà cũng là Mẹ chúng sinh vì nghe theo Thiên sứ, xin vâng lời Thiên Chúa dấn thân vào sứ mạng Đồng công cùng với Chúa Cứu Thế cứu thoát loài người khỏi hố đoạ trầm mà được thăng tiến vinh phúc. Như vậy bà Evà đã bị con Rắn đánh thảm bại, thì Tân Evà đã đạp nát đầu Rắn, chiến thắng nó một cách vẻ vang, mà cuộc chiến thắng đầu tiên là được đặc ân Vô nhiễm.

Bài đọc II: Êphêsô 1:3-6, 11-12

Đầu thư này trình bày thánh lệnh muôn đời của Thiên Chúa là mầu nhiệm đã được giấu kín qua các thời đại, rồi được tỏ ra trong Chúa Kitô. Đức Gioan Phaolô II áp dụng tư tưởng này vào Mẹ Maria: “Mầu nhiệm Mẹ Maria chỉ được tỏ rõ trong mầu nhiệm Chúa Kitô” (RM, 4). Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ từ muôn thuở để Mẹ nên thánh thiện và vô tì tích trước mặt Người. Cùng với Đức Gioan Phaolô II, chúng ta có thể thấy rằng ơn thánh đã làm cho toàn thể con người Mẹ Maria nên cao cả xinh đẹp phi thường (RM, 11).

Phúc âm: Luca 1:26-38

Bài Phúc âm này được tuyên đọc ngày lễ Mẹ Vô nhiễm, vì lời thiên sứ “kính chào Bà đầy ơn phước” tỏ ra rằng Đức Trinh Nữ Maria được dư tràn ơn phúc do đặc ân Vô nhiễm như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II giải thích: đầy ơn phúc nghĩa là Vô nhiễm (18-12-84). Lời thiên sứ quả quyết “Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ” chứng tỏ Trinh Nữ được đẹp lòng Thiên Chúa, được Thiên Chúa tuyển chọn vào một chức phẩm siêu việt và một sứ mạng cao cả. Trước một ơn thánh cao dầy do lòng Chúa yêu thương và trước một viễn tượng huy hoàng rực rỡ như thế, Trinh Nữ Maria càng hạ mình sâu thẳm, càng trung kiên với đức Đồng trinh, càng được đẹp lòng Thiên Chúa. Do vậy, Thiên Chúa đã thực hiện nơi Người mầu nhiệm Nhập thể Cứu chuộc.

L.m. Phêrô, CMC

Nguồn:gpnt.net

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

Một số hình ảnh Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Vương cung Thánh đường Phú Nhai 2010

Posted by phunhai trên 19/01/2011

Đây là một số hình ảnh ngày lễ kính Đức Mẹ Vô nhiêễm nguyên tội tại Vương cung thánh đớc Phú Nhai – Giáo phận Bùi Chu, ngày 08 tháng 12 năm 2010.

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Posted by phunhai trên 29/11/2010

8 Tháng Mười Hai
Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Lc 1, 26-38

Mỗi người chúng ta đều có một bà mẹ trần thế. Mẹ là người sinh ra ta, cho ta bú mớm vỗ về, an ủi ta. Mẹ là người dậy ta tiếng nói đầu đời. Mẹ đưa ta tới trường ,mở rộng chân trời cho ta tiến bước. Mẹ dậy ta biết vượt thắng gian nan, đẩy lui thử thách, biết quí trọng thời gian. Mẹ làm gương cho ta về lòng bao dung, chia sẻ, nhân ái. Mẹ dậy ta phải sống công bằng bác ái. Mẹ giúp ta ham sống và tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Mẹ là niềm an ủi, là hạnh phúc và là sức mạnh để ta lướt thắng gian nguy .Vâng, Chúa đã trao cho mỗi người một bà Mẹ đáng yêu, đáng quí trọng, Chúa lại ban tặng cho nhân loại một bà Mẹ vượt trổi trên mọi bà Mẹ thế trần. Mẹ có tên tuyệt vời không tên nào dưới thế có thể diễn tả hết như Mẹ đã được gọi : MARIA .
 
-Maria là ai ?
 
-Tại sao Mẹ lại vô nhiễm nguyên tội ?
 
-Đặc ân vô nhiễm nguyên tội giúp ích gì ta ?
 
I. MARIA LÀ AI ?

Ở đây , ta chỉ nói lướt qua về Maria qua đoạn suy niệm này vì bài này không phải là một nghiên cứu về tiểu sử của Mẹ theo nhãn giới Kinh Thánh hay suy tư thần học mà người viết chỉ phác hoạ đôi nét cơ bản để người đọc dễ nhận ra Maria là ai. Maria là Mẹ Đấng cứu thế, đã sinh ra Chúa Giêsu. Maria được sinh ra trong một gia đình đạo đức, thánh thiện. Cha Người là thánh Gioankim và mẹ Người là bà thánh Anna. Maria được sinh ra vào lúc hai ông bà Gioankim và Anna đã già nua, tuổi tác .Maria sống ở làng quê Nazarét, miền Bắc nước Palestina. Lớn lên như mọi người con gái thời đó, Maria đã đính hôn với Giuse, làm nghề thợ mộc ở làng Nagiarét, thuộc dòng dõi vua Đavít.
 
Tuy đã đính hôn với Giuse, nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh để đời đời dành riêng cho Thiên Chúa, nên chính trong thời điểm này, ý định của Thiên Chúa đã đổ xuống trên trinh nữ Maria. Thiên Chúa đã sai Thiên sứ Gabrien đến gặp trinh nữ Maria và nói lên ý định tuyệt vời của Thiên Chúa, chọn Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế . “…và này đây bà sẽ thụ thai,sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu “(Lc 1, 31 )
 
Maria bối rối, hoang mang, thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !”(Lc 1,34 ). Thiên sứ đã giải thích cho Maria rằng: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà,và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa “(Lc 1, 35 ) Sau khi được giải thích về việc thụ thai mà vẫn giữ mình thuộc trọn Thiên Chúa, Maria dứt khoát nói lời xin vâng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói “(Lc 1,38 ) . Và Ngôi Hai là Chúa Giêsu đã ngự trị trong lòng Đức Trinh nữ Maria .
 
Rồi lúc đến ngày sinh con, Mẹ Maria đã hạ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá Bêlem(Lc 2,7 ), khi hai ông bà Giuse và Maria phải trở về quê quán để khai hộ khẩu theo lệnh của hoàng đế Au-gút-tô (Lc 2,1 ) . Sau đó hai ông bà Giuse và Maria lại phải đem Chúa Giêsu lánh qua nước Aicập để tránh việc tàn sát con trẻ của hoàng đế Hêrôđê cho tới khi Hêrôđê băng hà; hai ông bà Giuse và Maria lại bồng bế Hài nhi Giêsu trở về Nazarét quê nhà.
 
Mẹ Maria đã sống một cuộc đời hết sức âm thầm với Chúa Giêsu và thánh Giuse suốt 30 năm Chúa ở với hai ông ba. Trong ba năm Chúa đi rao giảng và kết nạp các môn đệ, chúng ta chỉ gặp Đức Mẹ một lần ở tiệc cưới Cana. Lần khác nữa khi Mẹ Maria và vài người bà con đi tìm Chúa Giêsu, Chúa đã trả lời : “…Những người nghe và giữ lời Ta giảng dậy, đó là Mẹ và anh em của Ta ” (Mc 3,31-35 ) . Một lần nữa , chúng ta bắt gặp Mẹ Maria đứng dưới chân Thập Giá Chúa Giêsu trên đồi Canvê(Ga 19,25 ). Lần cuối cùng,chúng ta thấy Mẹ Maria và các môn đệ cầu nguyện chung trong nhà tiệc ly để chờ đợi Chúa Thánh Thần (Cv 1,14 ). Rồi sau đó, có lẽ Đức Mẹ đã theo thánh Gioan đi rao giảng Tin Mừng ở Tiểu Á và đã qua đời ở Êphêsô .
 
Maria đã sống ẩn dật, âm thầm nhưng vì Mẹ là Mẹ Đấng cứu thế , nên muôn đời mọi thế hệ đều ngợi khen, tung hô Mẹ .
 
II. TẠI SAO MẸ LẠI VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI ?

Tội nguyên tổ do hai ông bà tổ tiên Adong và Eva đã truyền lại cho con cháu muôn đời. Riêng Mẹ Maria vì là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng cứu Thế, Thiên Chúa đã dành cho Người đặc ân vô cùng quí giá ngay khi Người còn đang trong cung lòng bà thánh Anna, vì công nghiệp của Chúa Giêsu Con Mẹ sẽ sinh ra sau này, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ Maria nguyên tuyền, trinh trắng,không hề mang tì vết : đó là đặc ân vô nhiễm nguyên tội Thiên Chúa dành riêng cho mình Mẹ mà thôi .
 
Chính vì thế, không một phút, một giây nào trong đời sống, Đức Mẹ đã phải khuất phục ma quỉ, đã ở trong tình trạng tội lỗi. Dù khi thụ thai, dù lúc sinh con, Mẹ Maria luôn thuộc trọn về Chúa, nghĩa là lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân sủng của Chúa Thánh Thần, lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân phúc. Mẹ không hề mắc tội dù tội riêng mình làm vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Mẹ phải là Đấng hoàn toàn nhất để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Hai làm người. Mẹ là “Evà mới ” như Giáo Hội đã ca tụng Mẹ “Thiên Chúa đã dọn cho con Ngài một chỗ ở xứng đáng nhờ đặc ân vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ” . “Mẹ được giữ sạch không vương chút tội lỗi nhờ vào ân sủng do cuộc tử nạn của Chúa Giêsu “.
 
Đức thánh Cha Piô IX đã long trọng tuyên bố tín điều Mẹ vô nhiễm nguyên tội ngày 8 tháng 12 năm 1854 và chỉ bốn năm sau đó chính Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadetta tại Lộ Đức ngày 25 tháng 3 năm 1858 đã xác nhận: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.
 
III. ĐẶC ÂN VÔ NHIỄM GIÚP GÌ CHO TA ?

Chúng ta là con cái Đức Mẹ,Một người Mẹ hoàn hảo nhất, tốt đẹp nhất vì Mẹ luôn trong trắng, luôn tươi xinh, không một vết tì ố nào có thể làm ô nhiễm tâm hồn Mẹ .
 
Với đặc ân vô nhiễm nguyên tội, đặc ân được gìn giữ hồn xác vẹn toàn , Mẹ Maria là “Evà mới “, Evà mang sự sống, chứ không mang cái chết, chỉ có tội mới đem lại sự dữ, mang lại cái chết cho con người , còn Mẹ vì là người vẹn toàn được Thiên Chúa ấp ủ, bao bọc như Chúa gìn giữ con ngươi mắt Chúa, nên Maria đã trở nên mẫu gương trung thành tuyệt đối cho ta về đức trinh khiết Mẹ dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Mẹ trở thành sao mai dẫn lối nhân loại vượt qua cuộc hải hành trần gian đầy cam go thử thách nhờ lòng tin kiên vững không hề lay chuyển qua lời thưa Xin Vâng của Mẹ. Maria đã cho ta hiểu qua đặc ân vô nhiễm nguyên tội , Mẹ bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, Đấng nguyên vẹn, ngàn trùng chí Thánh , Đấng vô cùng chung thủy đối với nhân loại này .
 
Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội ,xin cho chúng con hiểu được rằng Chúa đã yêu thương Mẹ, yêu thương mọi người chúng con và không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được .
 
Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết ngước nhìn lên Mẹ dù cuộc đời chúng con có muôn ngàn vấp ngã , để chúng con luôn chỗi dậy và được Mẹ dắt tay chỗi dậy.
 
Xin Mẹ giúp chúng con và nhân loại biết bước đi trong vâng phục, tin tưởng và cậy trông như Mẹ đã luôn tuân phục ý Chúa, làm theo ý Chúa và thực thi Lời Chúa.
 
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Posted by phunhai trên 29/11/2010

ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Lc 1,26-38

( ngày 8/12)

 NÉT ĐẸP TUYỆT VỜI CỦA MẸ MARIA

 Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

Mẹ Maria đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm mẹ Chúa Giêsu và là mẹ nhân loại, chính vì thế, Thiên Chúa đã ban cho mẹ nhiều đặc ân mà trên trần thế không ai được như mẹ. Mẹ được ơn trinh thai, một ân huệ đặc biệt chỉ mình mẹ mới có. Thiên Chúa còn cho mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội nghĩa là Thiên Chúa đã gìn giữ linh hồn Đức Mẹ không vướng phải vết nhơ tội nguyên tổ. Và sau khi mẹ qua đời, Thiên Chúa lại đưa cả hồn lẫn xác mẹ về trời.

 

NÉT ĐẸP TUYỆT VỜI CỦA NGƯỜI NỮ TỬ SION CÓ TÊN MARIA:

 

Ađam và Evà đã phản nghịch cùng Chúa:hai ông bà đã ăn trái cấm,nghịch lại lệnh của Chúa. Quả thực, trái cây mà hai ông bà tổ tiên đã ăn chẳng đáng gì, nhưng sở dĩ hai ông bà nguyên tổ bị Chúa giáng phạt vì họ đã không vâng lời Chúa. Đây là tội phản bội.Tội này đã mang sự chết vào trần gian và tội tổ tông đã truyền cho con cái qua muôn thế hệ. Tuy nhiên, chỉ riêng mình mẹ Maria vì được Thiên Chúa chọn để làmm mẹ Đấng Cứu Thế, nên mẹ đã được Thiên Chúa gìn giữ cách riêng không mắc tội tổ tông truyền. Vì vậy, không một giây phút nào trong cuộc đời của mẹ phải lệ thuộc ma quỉ, lệ thuộc tà thần hung ác. Đức mẹ ngay từ lúc mang thai bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, linh hồn Đức mẹ đã được tràn đầy thánh sủng, và các nhân đức siêu nhiên, đầy ân huệ của Chúa Thánh Thần. Cho nên, khi thiên thần Gabrien đến truyền tin cho Đức mẹ, thiên thần đã cất tiếng:” Kính chào trinh nữ đầy ơn phước”(Lc 1,28). Đức mẹ được đặc ân vô nhiễm nguyên tội vì mẹ là mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ là mẹ Đấng cứu chuộc, nên Mẹ phải trong trắng vẹn tuyền, không vương tì ố của tội nguyên tổ và tội riêng mình làm. Đây là nét đẹp tuyệt vời của người nữ tử Sion có tên là Maria. Một tên gọi dịu dàng, nhưng mang ý nghĩa cao vời. Tên Maria gói trọn tất cả. Trong tên gọi của Người đã gồm tóm cả nhân loại và đem lại cho từng người, cho nhân loại, cho lịch sử cứu độ niềm hạnh phúc vô biên. Hạnh phúc chỉ có thể có nơi thập giá sau này của Con mẹ sẽ sinh ra cho trần gian. Mẹ Maria đã sống trọn nét đẹp sâu xa nhất Thiên Chúa dành để cho mẹ. Với những nét đẹp tuyệt diệu nhất Thiên Chúa chỉ để cho mẹ. Tên Maria quả là cuốn sách chứa đựng toàn những điều quí hóa nhất. Đó là bình sành quí giá tuyệt vời Thiên Chúa đã dành cho mẹ.

 

MẸ MARIA LÀ MỘT TRONG NHỮNG ANAWIM CỦA THIÊN CHÚA:

 

Nếu đoạn sách khởi nguyên 3, 9-15.20 cho biết tại sao lại có tội và rằng Thiên Chúa không chịu khuất phục sự tội, Ngài quyết tuyên chiến với sự ác, sự tội và Ngài đã dự liệu để chiến thắng tội lỗi. Dân chúa chọn quả có nhiều người phản nghịch với Chúa, nhưng bên cạnh ấy còn có nhiều người không chịu cúi đầu lệ thuộc sự tội, nhưng họ  đang đẩy lui sự tội, đạp dập đầu con rắn là ma quỉ. Những con người quí hiếm ấy là các ngôn sứ, các người đạo đức, biết nghe và tuân giữ lời Chúa, những người nghèo khao khát Chúa. Mẹ Maria là một người trong nhóm người nghèo của Giavê Thiên Chúa. Mẹ đơn sơ, khiêm nhượng, đạo hạnh, vì vậy đoạn Tin Mừng trích đọc hôm nay Thiên sứ Gabrien gọi mẹ là đầy ơn huệ, đầy ơn phước của Chúa. Mẹ là nữ tử Sion đầy cảm kích Thiên Chúa để ý và tuyển chọn giữa muôn vàn người nữ. Mẹ là Anawim của Thiên Chúa vì cả cuộc đời của mẹ đã luôn nói lời xin vâng cảm phục Thiên Chúa và tuân theo ý Chúa. Vì cả đời mẹ là lời xin vâng, cho nên ơn vô nhiễm nguyên tội mà Thiên Chúa ban cho mẹ ngay lúc mẹ còn ở cung lòng bà Anna luôn còn nguyên vẹn. Mẹ là mẫu mực cho toàn nhân loại vì con người được Thiên Chúa tiền định để hưởng ơn cứu độ và trở nên con cái của Người. Đồng thời, nhân loại cũng được sinh ra như lời thánh Phaolô viết là nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô Con của Mẹ.

 

Mừng lễ mẹ vô nhiễm nguyên tội trùng với Mùa Vọng, chúng ta hãy nhớ tới ơn huệ tuyệt hảo Thiên Chúa dành cho mỗi người là có mẹ vô nhiễm, do đó chúng ta phải có lòng sám hối, ăn năn để sống xứng đáng là Con của Mẹ Maria vô nhiễm. Lạy Chúa, Chúa đã dọn sẵn một cung điện xứng đáng cho Con Chúa giáng trần khi làm cho Đức Trinh Nữ Maria khỏi mắc tội tổ tông ngay từ trong lòng mẹ. Chúa cũng gìn giữ Người khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nhờ công nghiệp Con Chúa sẽ chịu chết sau này vì lời Đức Trinh Nữ nguyện giúp cầu thay, xin Chúa cũng ban cho chúng con, được trở nên công chính thánh thiện mà đón rước Con Chúa”( lời nguyện nhập lễ, lễ Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội).

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

Những Đền Thánh Kính Mẹ Maria Tại Việt Nam (Từ Bắc vào Nam)

Posted by phunhai trên 16/11/2010

Người Công Giáo Việt Nam có lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt.Và Mẹ cũng đã tuôn đổ biết bao ơn lành xuống con dân nước Việt. Nói đến lòng sùng kính Mẹ, không thể không nhắc đến những đền Thánh mà người Công Giáo Việt Nam đã dâng kính Mẹ cách riêng để tri ân Mẹ và bày tỏ lòng con thảo đối với Mẹ.
Xin mời anh chị em, chúng ta cùng đi viếng những Đền Thánh kính Mẹ tại quê hương Việt Nam chúng ta. Đây chỉ là những nơi nổi bật. Dĩ nhiên còn vô số những thánh đường, những giáo xứ, họ đạo cũng dâng kính Mẹ cách riêng mà không thể kể hết ra đây.

 

NHỮNG ĐỀN THÁNH MẸ TẠI VIỆT NAM

(Từ Bắc vào Nam)

1. Đền Đức Mẹ Vô nhiễm,

Phú Nhai, Gp Bùi Chu, Tỉnh Nam định

Năm 1861, theo sử gia M. Gispert, trước chiếu chỉ “phân sáp” năm 1861 vô cùng khốc liệt và độc ác thời vua Tự Đức, lại thêm ông Trịnh Quang Khanh, Tổng đốc Tỉnh Nam định vừa ghét đạo, vừa muốn lập công với triều đình, nên càng lùng bắt giáo dân dữ dội. Đức cha Vinh (Berio Ochoa) biết không thể sống với con chiên mình được nữa, nên ngài phải trở lại hầm trú Hương La (tỉnh Bắc Ninh). Trước khi ra đi, đức cha và cha chính Hòa (Riano) đã cùng nhau dâng lên Thiên Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm lời cầu nguyện tha thiết và khấn hứa xây cất một đền thờ dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, cùng nhận Người làm bổn mạng địa phận khi Thiên Chúa ban cho giáo dân thoát khỏi cuộc bách hại và được hưởng thái bình:”Nếu Mẹ chở che Giáo phận cho khỏi cơn bách đạo, được bình an, thì Giáo phận sẽ xây dâng kính Mẹ một Ðền Thánh nguy nga xứng đáng, và sẽ nhận Ðức Mẹ Vô Nhiễm làm bổn mạng”.

Năm 1861, theo sử gia M. Gispert, trước chiếu chỉ “phân sáp” năm 1861 vô cùng khốc liệt và độc ác thời vua Tự Đức, lại thêm ông Trịnh Quang Khanh, Tổng đốc Tỉnh Nam định vừa ghét đạo, vừa muốn lập công với triều đình, nên càng lùng bắt giáo dân dữ dội. Đức cha Vinh (Berio Ochoa) biết không thể sống với con chiên mình được nữa, nên ngài phải trở lại hầm trú Hương La (tỉnh Bắc Ninh). Trước khi ra đi, đức cha và cha chính Hòa (Riano) đã cùng nhau dâng lên Thiên Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm lời cầu nguyện tha thiết và khấn hứa xây cất một đền thờ dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, cùng nhận Người làm bổn mạng địa phận khi Thiên Chúa ban cho giáo dân thoát khỏi cuộc bách hại và được hưởng thái bình:”Nếu Mẹ chở che Giáo phận cho khỏi cơn bách đạo, được bình an, thì Giáo phận sẽ xây dâng kính Mẹ một Ðền Thánh nguy nga xứng đáng, và sẽ nhận Ðức Mẹ Vô Nhiễm làm bổn mạng”.

Lời khấn cầu đã được Đức Mẹ nhận, Giáo phận dần dần đã được bình an, giáo sĩ, giáo dân dần dần hồi phục, kẻ bỏ đạo đã biết thống hối ăn năn, mọi người sống đạo nhiệt thành hơn trước.

Đến năm 1866, cha chính Hòa (Riano) làm giám mục Bùi chu, ngài cùng với cha chính Isaac Barquero (Ninh) khởi sự xây Đền Thánh Đức Mẹ và nhận danh hiệu Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội làm bổn mạng địa phận. Đức Cha đã chọn Phú Nhai, một làng toàn tòng và đông dân bậc nhất của địa phận để thực hiện. Khi tuyên bố nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là Quan Thầy Giáo phận, Đức cha Hòa đưa ra sáng kiến: Hàng năm sẽ tổ chức lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm trọng thể, mời tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân trong Giáo phận về Phú nhai để mừng lễ tạ ơn Đức Mẹ.

 

Năm 1881 cha chính Ninh (Barquero) thay thế bằng một thánh đường khác đồ sộ hơn, cột xà bằng gỗ, kiến trúc Đông Phương.

 

Năm 1923, thời đức cha Trung (Munãgori, 1907- 36), ngôi thánh đường này đã được thay thế bằng một đại thánh đường đồ sộ nguy nga, có thể nói là lớn nhất Việt Nam. Ngày khánh thành là ngày 8 tháng 12 năm 1923, do Đức Giám mục Mũnagori bấy giờ là Giám mục Bùi chu chủ tọa. Lễ Quan Thầy năm nay, hầu hết các linh mục và trên 50 ngàn giáo dân từ các nơi trong Giáo phận về tham dự. Rất tiếc, ngôi Đền Thánh này đã bị sụp đổ vì cơn bão lớn vào năm 1929.

Ngày ngày kinh Mân côi được vang lên nhịp nhàng ca tụng Mẹ trong Đền thánh này từ môi miệng của những người con đơn sơ, chân thành.

Khi trước, mỗi dịp lễ Quan Thầy, giáo dân xứ Phú nhai sửa sang đường sá, trang hoàng Đền Thánh. Hàng trăm cây cột bằng trúc (một thứ tre cứng) sơn trắng cắm cờ Đức Mẹ (mầu xanh trắng) và cờ Tòa Thánh Vatican (mầu vàng trắng) dựng chung quanh Đền Thánh. Ngoài ra, 7 xóm trong xứ còn dựng 7 cây đèn cốn (một bó tre già ngâm nước lâu ngày buộc lại. Đối với người dân miền đồng bằng Bắc Việt, tre dễ kiếm hơn gỗ). Đèn cốn cao tới 3, 4 chục mét, được đứng vững nhờ nhiều sợi dây buộc từ thân cây đèn chạy xuống nhiều phía. Thân cây đèn cốn được bọc vải trắng, và từng khúc lại có đai đỏ buộc chung quanh coi rất đẹp mắt. Trên ngọn đèn cốn cắm mấy lá cờ nhỏ, giữa thân đèn kéo cờ ngũ hành (năm sắc xanh, đỏ, trắng, tím, vàng) thật lớn. Buổi tối, người ta kéo lên nhiều giây đèn chai( chai được biến thành chiếc đèn đựng dầu, thời đó miền này chưa có điện) đốt sáng suốt đêm.

Mỗi dịp kỷ niệm dâng hiến Đền thánh Mẹ Vô nhiễm Phú nhai, con cái giáo phận Bùi Chu. “Dù ai ở mãi nơi đâu, nhớ ngày kính Mẹ rủ nhau đi về”.

Suốt dòng lịch sử Giáo phận, từ những bước chân rao giảng Tin mừng đầu tiên ở Ninh cường, Quần anh, Trà lũ Phú Nhai (năm 1533) cho đến hôm nay, Giáo phận Bùi chu luôn được phó dâng cho Mẹ. Tin chắc rằng Mẹ đã nâng đỡ Giáo phận trong suốt những năm tháng qua thì Mẹ sẽ tiếp tục và mãi mãi đồng hành với Bùi Chu, mảnh đất nhuộm máu các anh hùng tử đạo.

 

3.Trung tâm Thánh mẫu toàn quốc Lavang
của Giáo hội Công giáo Việt Nam

(Theo Văn phòng Tổng thư ký HDGMVN, Giáo hội Công giáo Việt nam, niên giám 2004 trang 503-504; Lm. Nguyễn Văn Ngọc, Linh Địa La Vang, TTĐM 1978, tr. 35-36; Gs. Nguyễn Lý Tưởng, Giới thiệu Linh Địa Lavang, NS. Hiệp nhất số 66 6/98 trang71).

Lavang (Quảng trị) là nơi các giám mục miền Nam gồm giáo tỉnh Huế và Sài gòn trong phiên họp ngày 13-4-1961 đã chọn làm Trung tâm Thánh mẫu toàn quốc.

Ngày 1-5-1980, trong hội nghị lần đầu tiên tại Hà nội, các giám mục cả nước biểu quyết nhận Lavang làm Trung tâm Thánh mẫu toàn quốc của Giáo hội Việt Nam .

Sự tích Đức Mẹ Lavang

– Theo sách Đại Nam Thống Nhất Chí thì La vang đầu tiên là đất của nước Chiêm Thành. Năm 1306, Vua Chiêm là Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Lý cho vua nhà Trần để xin cưới công chúa Huyền Trân, La vang trở thành miền đất của Việt nam. Thời Chúa Nguyễn Hoàng lập nghiệp, gọi là Dinh cát, ngày nay (2005) La vang thuộc xã Hải phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. La vang cách thành Huế 60 cây số về phía bắc.

– Theo sách Linh Địa La vang thì La vang ngày trước gọi là Lá vằng. Lá Vằng là tên một phường thuộc làng Cổ Vưu. Làng Cổ Vưu là tên họ đạo xưa của xứ Dinh Cát, được thành lập vào thế kỷ 17. Nay gọi là Trí Bưu, làng này ở sát cạnh Thị xã Quảng Trị về phía Tây Bắc chừng 6 cây số.

– Xưa người ta gọi La vang là phường Lá Vằng, vì trên mảnh đất này có nhiều cây lá vằng. Đó là thứ cây leo, có hột đen, ăn được nhưng vị đắng, dùng làm vị thuốc chữa bệnh đau bụng, đau lưng, phụ nữ sinh con…

Tại sao có chuyện Đức Mẹ hiện ra ở La vang?

– Theo những lời truyền miệng của tiền nhân, cách đây 200 năm (năm 1777) dưới thời vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) nhà Tây Sơn cấm đạo Công giáo rất ngặt, vì họ cho là người Công giáo theo Tây, phản Tổ quốc. Thời bấy giờ tỉnh Quảng Trị đã có nhiều người theo đạo Công giáo, cha Đắc Lộ (Alexander Rhode đã giảng đạo cho miền này). Sắc lệnh truyền phá hủy hết các nhà thờ, nhà xứ, bắt các cố đạo và giáo dân…
Nhiều người Công giáo ở Dinh Cát đã chạy trốn vào phường Lá Vằng để tị nạn, vì bấy giờ phường Lá Vằng ở giữa rừng xanh núi hiểm, xa thị xã, quan quân không dòm ngó tới.

Sự việc gì đã xẩy ra khi đồng bào lánh nạn, liên quan tới Lavang?


– Trong lúc trốn tránh cuộc tàn sát, đốt phá, những người trốn vào Lá vằng rất khổ sở, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, vừa đói, vừa khổ, lại bị muỗi chích bọ cắn, nhiều người đau ốm mà không có thuốc chữa.

Trong lúc đau khổ tột cùng, họ đã luôn kêu cầu cùng Chúa và Đức Mẹ, họ đọc nhiều kinh Mân côi, là kinh rất dễ đọc để cầu khấn. Đêm ngày họ cùng nhau cầu nguyện bằng chuỗi hạt Mân côi, dâng lên Mẹ những tiếng thở than của đoàn con đau khổ.
Bỗng một đêm, họ thấy một Bà đẹp đẽ mặc áo choàng hiện ra gần cây đa cổ thụ, mà họ nhận ngay là Đức Mẹ, vì Bà bồng Chúa Hài Đồng, hai bên có 2 thiên thần cầm đèn chầu, giống như ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Đức Mẹ ngỏ lời an ủi họ, và dạy họ bẻ lá vằng quanh đó nấu nước uống để chữa bệnh. Đức Mẹ còn hứa rằng: “Các con hãy tin tưởng, vui lòng chịu khổ. Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”. Sau đó, Đức Mẹ còn hiện ra nhiều lần với họ như vậy.

Những sự việc gì diễn ra tại La vang sau đó cho tới ngày nay?

– Câu chuyện về Lá vằng có Bà đẹp hiện ra, lá vằng chữa bệnh, không những người Công giáo mà cả người ngoài Công giáo cũng loan truyền, cũng hái là chữa bệnh và được khỏi.
– Đầu tiên, họ đã đắp một cái nền dưới gốc cây đa nơi Đức Mẹ hiện ra và họ rào chung quanh.

– Khoảng đầu thời Vua Minh Mạng (năm 1820), họ làm một ngôi miếu thờ Bà đẹp hiện ra tại đây.

– Cha xứ làng Cổ vưu đã cho sửa lại thành ngôi nhà thờ lợp tranh đầu tiên. Nhà thờ này đã bị quân Văn Thân đốt cháy năm 1885.

– Năm 1885, thời vua Đồng Khánh, giáo dân lại làm nhà thờ khác bằng tranh.

– Năm 1886, Đức Giám mục Huế tên là Gaspar cho xây nhà thờ bằng gạch. Nhà thờ này xây mất 15 năm mới hoàn thành.

– Năm 1901, Khánh thành nhà thờ và mở Đại Hội Đức Mẹ La vang lần thứ I. Giáo dân tham dự chừng 12 ngàn người, đa số đi bộ tới dự.

– Qua nhiều lần bão lụt, năm 1923, Đức Cha Allys xây nhà thờ lớn hơn, nhiều tiện nghi hơn và hoàn thành năm 1928.

– Ngày 13.4.1961, các Giám Muc VN dã dâng hiến Đền thờ La vang cho Trái Tim Đức Mẹ, để làm trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc. Đền thờ được Đức Thánh Cha Gioan 23 nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường.

– Mùa hè đỏ lửa, năm 1972, chiến tranh giữa Cộng hòa và Cộng sản, nhà thờ này bị đổ nát vì bom đạn, hiện nay chỉ còn lại một phần ngọn tháp.

– Ngày 26/12/1997 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gửi Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng Sứ điệp sau nhân kỷ niệm 200 Đức Mẹ hiện ra tại Lavang:

“Kính gửi Đức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng, Tổng Giám mục Hà nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt nam.
Nhân dịp khai mạc năm Toàn xá kỷ niệm 200 năm Đức Trinh Nữ Maria hiện ra tại Lavang, tôi nhiệt tình chung vui và tạ ơn Thiên Chúa với các Giám mục Việt nam và với các tín hữu trong các Giáo phận các Ngài.

Tại Đền Thánh này, vốn rất được tín hữu Việt nam quí mến, vang lên một sứ điệp hy vọng mà Mẹ Thiên Chúa đã gửi đến con cái Người vào năm 1798 giữa những thống khổ tinh thần và thể xác, khi Mẹ nói:

” Các con hãy tin tưởng, hãy vui lòng chịu đựng đau khổ, Mẹ đã nhận lời các con cầu xin. Từ nay về sau, hễ ai đến kêu xin Mẹ nơi đây, sẽ được toại nguyện”.

Suốt hai thế kỷ, sứ điệp ấy vẫn luôn luôn hợp thời, đã được sốt sắng đón nhận tại Lavang. Mặc cho những thử thách lớn lao đã đánh dấu dòng lịch sử của Lavang, Trung Tâm Thánh Mẫu này, nay trở thành Trung tâm Toàn quốc, đã duy trì được các cuộc hành hương liên tục như một truyền thống sinh động.

Mang tâm sự thầm kín, rất nhiều người, đủ mọi thành phần, đủ mọi hoàn cảnh, đến phó thác cho Mẹ trên trời những khắc khoải và những kì vọng của họ. Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân đều yêu thích tìm được nơi đây sự hiện diện niềm nở của mẹ, Đấng ban cho họ đầy đủ can đảm để làm chứng tuyệt vời về đời sống Kitô hữu trong những hoàn cảnh lắm lúc khó khăn.

Tôi chúc tụng Thiên Chúa đã không bao giờ bỏ rơi đoàn dân tìm kiếm Người, và với sự phù trợ hiền mẫu của Đức Trinh nữ Maria, vẫn tiếp tục dẫn dắt đoàn dân này trong những ngày hạnh phúc cũng như trong những lúc khốn khó.

Tôi cầu chúc cho những tín hữu, trong Năm Toàn xá này sẽ đến cầu nguyện với Đức Mẹ Lavang tại Đền Thánh của Người, hoặc sẽ kêu cầu Người ở những nơi khác, được tìm thấy một sức thúc đẩy tông đồ mới, cho đời sống Kitô hữu của họ, và nhận lãnh ơn an ủi và sức mạnh để đương đầu với những lo âu trong cuộc sống. Tôi mời gọi họ nhìn thấy nơi Đức Maria một người Mẹ mà chính Đức Giêsu đã ban tặng cho loài người, một người mẹ sẽ dẫn dắt họ đến với Người Con thần linh của mình.

… Tôi đồng tâm hiệp ý trong lời cầu nguyện với đông đảo khách hành hương về La vang, và tha thiết khẩn cầu Mẹ Chúa Kitô, Mẹ nhân loại cho toàn thể dân tộc Việt nam, cũng như cho các cộng đoàn Kitô hữu người Việt sống ở nước ngoài. Ước gì họ đặt tin tưởng vào Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Đấng đang đồng hành với họ trong cuộc lữ hành trần thế với tất cả tình hiền mẫu.

Dù sống bất cứ nơi đâu, ước gì họ là những môn đệ của Chúa Kitô, trung thành và quảng đại làm chứng nhân cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa ở giữa anh chị em mình.

Kính thưa Đức Hồng Y,
Trong dịp kỷ niệm hồng phúc 200 năm Đức Trinh Nữ hiện ra tại La vang, tôi thân ái gửi phép lành Tòa Thánh đến Ngài, cũng như đến các giám mục, linh mục, những người chuẩn bị làm linh mục, các tu sĩ nam nữ, và toàn thể tín hữu ở Việt nam và hải ngoại.
Vatican, ngày 16-12-1997
Gioan Phaolô II Giáo hoàng

– Đại Hội lần thứ 25 được tổ chức tại đây vào ngày 13-15/8/1998 kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Nhân dịp bế mạc, ĐTC lại gửi cho đức cha Stêphanô Nguyễn Như Thể một sứ điệp nữa, nói lên lòng ưu ái của Ngài:

“…Lòng trí tôi gần gũi với đức cha một cách đặc biệt trong thời gian này khi Giáo hội trên quê hương của đức cha đang tôn vinh Mẹ Đấng Cứu thế…” (Văn phòng TTKHDGMVN, Giáo hội Công giáo Việt Nam, niên giám 2004, Hà nội, 2004, trang 507 ).

4. Đức Mẹ Trà kiệu, Quảng nam

 


Trà Kiệu, với diện tích khoảng một cây số vuông, đẹp một cách hùng vĩ và linh thiêng. Phía Tây Trà Kiệu là rặng núi Kim Sơn chạy dài, hút sâu vào dải Trường Sơn trùng điệp. Phía Nam là di tích thành lũy và hoàng cung của một thời vàng son trong lịch sử Chiêm Thành. Theo sử sách ghi lại, đồng bào Công Giáo Trà Kiệu phần lớn từ miền Bắc di cư vào miền Trung, bắt đầu là người ở Kẻ Chợ Hà Đông vào khoảng năm 1684. Họ sống tập trung nhau để dễ bề giữ đạo và giúp đỡ cho nhau.

Năm 1883, sau khi vua Tự Đức băng hà, phong trào Cần vương nổi dậy “Bình Tây sát tả”(đánh tan quân Pháp, giết người Công giáo).

Ngày 1/9/1885 giáo xứ Trà kiệu bị bao vây chặt chẽ, cha sở Bruyere và giáo dân không có lối thoát. Trong làng thời đó chỉ có khoảng 370 thanh niên có thể chiến đấu với vỏn vẹn 5 khẩu súng. Họ phải tự rèn gươm giáo, đúc súng đạn, dành dụm từng chút lương khô trong cuộc chiến tranh tự vệ khó khăn và quyết liệt. Trong khi đàn bà trẻ con nhất tâm lần hạt Mân côi cầu khấn Mẹ trong nhà thờ, đàn ông chiến đấu chống quân Cần vương. Mỗi lần chiến đấu, họ hô tên Giêsu Maria.. Vì dân làng quá ít, nên sau bị tràn ngập quân bên địch.

Quân Cần vương tấn công vào nhà thờ, nhưng họ không thể được, vì có một “Bà đứng trên nóc nhà thờ xua vạt áo đỡ đạn cho dân”. Chính Mẹ đã ra tay đỡ đạn cho con cái đang cầu nguyện.

Sau 21 ngày tấn công và chống đỡ đẫm máu, đơn vị Văn Thân rút lui. Đồng bào Công Giáo Trà Kiệu tin rằng Đức Mẹ đã hiện ra trong những đêm 10 và 11 tháng 9 năm 1885 để che chở cho con cái của Mẹ và giúp đẩy lui quân đội của cả một phong trào Văn Thân rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đông gấp trăm lần.

Năm 1898, mười ba năm sau, người ta đã xây nhà thờ xinh đẹp kính Đức Bà phù hộ các giáo hữu.

Từ đó, hằng năm vào ngày 31 tháng 5, ngày cuối của tháng Hoa, người dân Công Giáo Trà Kiệu tổ chức lễ cung nghinh Đức Mẹ để ghi ơn Mẹ đã cứu giúp Trà Kiệu thoát khỏi bị tận diệt.

 

5. Đức Mẹ Tàpao, Bình thuận

Tàpao một ngọn núi thuộc xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Từ năm 1959, tượng Đức Mẹ đã được đặt trên núi Tàpao với độ cao 500m. Ngày 8.12.1959, Đức Cha Piquet đã đến làm phép tượng. Nơi đây đã trở thành trung tâm hành hương kính Đức Mẹ. Thế rồi chiến tranh bùng nổ nên thưa thớt người đến kính viếng. Sau năm 1975, rừng tre phủ kín bức tượng, tình hình quá khó khăn chẳng ai dám lên núi nữa.

Đến năm 1990, cha xứ Đức tân cùng một số tín hữu can đảm đã âm thầm lên núi chặt tre phát cây tạo lối đi. Bao năm hoang vắng tượng Mẹ bị phá hư hỏng nặng. Một số anh em bên Phương Lâm đã hăng hái đến sửa sang sơn phết lại. Họ cần mẫn kiên nhẫn lựa lúc trời mưa to gió lớn để không bị nhà cầm quyền phát hiện.Tượng Mẹ Tàpao dần dần sáng lên trên triền núi. Bắt đầu có những người yêu mến Mẹ vượt mọi sợ hãi đến nguyện cầu.


 

Từ năm 1999, khi người ta đưa tin Đức Mẹ hiện ra ở Phương lâm. Hàng ngàn người từ vùng Gia Kiệm Hố Nai,Bảo lộc, Đức Linh ùn ùn kéo về Phương lâm. Họ đứng chật cả một cánh đồng lớn mắt hướng về đỉnh núi Tàpao. Từ đó khách thập phương xa gần tìm đến hành hương kính Mẹ Tàpao.

Từ 5giờ sáng, con đường từ chân núi đến nhà thờ dài 1,5km đã đông xe lắm người. Đến 8 giờ thì đã chật như nêm. Hơn 15.000 người đi hành hương Mẹ Tàpao. Họ đến từ miền Tây, từ Sài Gòn, Vũng Tàu, Hố Nai, Phương lâm, Đà Lạt, Ninh thuận, các xứ trong Giáo phận và cả những tỉnh miền trung. Cũng có nhiều Việt kiều về viếng Đức Mẹ. Sau khi leo núi đến với Mẹ họ cùng tham dự lễ đặt viên đá.

Thánh lễ kết thúc lúc 11 giờ trưa trong khí trời mát dịu. Mọi người ra về không ăn uống tiệc tùng. Tiết kiệm để góp phần xây dựng nhà cầu nguyện.
 

6. Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, Nam Việt

Trong miền nam, công trình dâng kính Đức Mẹ lớn nhất là nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Công trình lớn lao này được trao cho kỹ sư Bournard từ Paris đến.

 

Niềm mơ ước suốt 5 năm qua : một thánh đường dâng Đức Mẹ, giờ đây đã khởi đầu. Ai ai cũng náo nức hân hoan chung chia niềm vui.

Đức Cha Phaolô đồng tế cùng 50 linh mục trong ngoài giáo phận.

Mở đầu thánh lễ, ngài nhắc đến hai trung tâm hành hương thế giới là Lộ Đức, Fatima, Đức Mẹ muốn xây thánh đường dâng kính Mẹ, cũng tại Đồng kho này Giáo phận Phan thiết cũng xây ngôi thánh đường mới dâng kính Mẹ Tàpao, xin mọi người cầu nguyện thật nhiều đề Đức Mẹ chúc lành cho công trình được hoàn thành tốt đẹp.

Trong bài giảng lễ, Đức cha suy niệm mẫu gương cầu nguyện của Đức Mẹ. “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa. Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi”. Tâm hồn Đức Mẹ là tâm hồn cầu nguyện. Một tâm hồn nghèo khó đầy tin yêu và phó thác. Cả cuộc đời của Mẹ luôn đặt trong bàn tay đầy yêu thương của Thiên Chúa.. Bài ca Magnificat mà Đức Mẹ hát lên trong cuộc gằp gỡ với Bà Isave là bài ca hạnh phúc nhưng lắm gian nan. Từ hang đá Bêlem sang Aicập rồi trở về Nazaret. Từ cuộc đời lao động của Chúa Giêsu cho đến đỉnh đồi Gongôtha. Tất cả Mẹ đều nhận ra là hồng ân của Thiên Chúa. Ở Lộ Đức, Fatima và bao nhiêu trung tâm danh tiếng khác, Mẹ luôn nhắc bảo chúng ta cầu nguyện. Đặc biệt ngày 13.7.1917 Mẹ đã gởi đến ba mệnh lệnh cầu nguyện: An năn sám hối, hoán cải cuộc đời, lần hạt Mân côi. Vì yêu thương nhân loại Đức Mẹ đã hiện ra nhiều nơi, lập ra nhiều trung tâm cầu nguyện để con cái Mẹ cùng với Mẹ cầu nguyện trong tin yêu phó thác.

Hôm nay lễ đặt viên đá xây thánh đường kính Mẹ. Đức Mẹ chỉ muốn chúng ta đến đây cầu nguyện. Thánh đường là trung tâm cầu nguyện với sự hiện của Chúa Thánh Linh. Anh chị em hành hương cảm nhận lòng từ ái Đức Mẹ đã thực hiện bao nhiêu điều tốt lành trong cuộc đời mình. Cuộc tụ họp hôm nay thật đông đảo để nói lên lòng biết ơn Đức Mẹ. Chúng ta hiệp ý dâng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa đã cho chúng ta một trung tâm cầu nguyện, tạ ơn Chúa đã cho chúng ta về đây trong tin yêu và vui tươi. Xin Chúa cho công việc xây ngôi thánh đường kính Mẹ Tàpao sớm được hoàn thành. Chúng ta sẽ có nơi khang trang để cầu nguyện, để học tập, để thanh luyện lại tâm hồn mình.

Hơn 5 năm đã trôi qua (2002-05). Biết bao là khó khăn và chông gai, khách hành hương vẫn nhiệt thành đến với Mẹ mỗi ngày một đông hơn. Đặc biệt là ngày 13 mỗi tháng, tại Nhà thờ Tánh linh cách núi Tàpao 7km có thánh lễ đồng tế do Đức Giám mục Giáo phận Phan thiết chủ sự. Nhiều linh mục đến giải tội và dâng lễ. Ngày 13 hàng tháng có 3000-5000 người, riêng ngày 13.5 và 13.10 có hơn 10.000 người đến kính Mẹ. Đức Cha Nicolas vẫn thường nói đến ân huệ lớn lao mà Đức Mẹ đã ban cho Giáo phận. Ngài hằng mong mỏi xây
dựng trung tâm hành hương xứng đáng nơi tôn kính Mẹ.

Thánh đường dâng Mẹ

Hôm nay ngày 13.5.2005, Giáo Phận Phan Thiết chọn làm ngày lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi thánh đường dâng kính Mẹ Tàpao. Thánh đường có diện tích 1000m2, theo mô hình nhà thờ Đức Mẹ Lộ Đức.

Từ chiều ngày 12.3, khách hành hương đã đến núi Đức Mẹ. Hàng ngàn người thức suốt đêm để cầu kinh nguyện hạt…Sau mấy cơn mưa đầu mùa, đất nhão nhoét, đường trơn trượt. Lối lên núi càng ghập ghềnh khó đi. Nhiều cụ bà 70-80 tuổi vẫn vui vẻ chống gậy trèo núi đến với Me. Nhiều người đau yếu tật nguyền cũng đến xin ơn phúc. Lòng yêu mến Đức Mẹ đã giúp mọi người vượt qua tất cả. Cáng khó càng khổ càng mệt người ta càng muốn leo lên núi như muốn bày tỏ tấm lòng thành. 7 giờ tối, mọi người bị đuổi xuống không được ở trên núi. Họ trải bạt, căng lều, mắc võng, đứng ngồi khắp mọi nơi dưới chân núi. Khung cảnh thật cảm động: người người lần hạt, mắt hướng lên đỉnh núi về phía Mẹ, ánh sáng những ngọn nến nơi tượng Mẹ lung linh nhập nhoà. Đêm càng khuya tiếng nguyện lời kinh càng âm vang, bầu khí linh thiêng càng soi toả vào lòng khách hành hương tình yêu dạt dào của Thánh Mẫu. Bài ca “Lời ru trước ngàn năm mới” của Maria Thiên Thanh viết dâng Mẹ mùa thu 1999 đã được khách hành hương thuộc nằm lòng. Họ hát lên. Hàng ngàn người cùng hoà vang lời ca tha thiết nguyện cầu : Tàpao núi rừng âm. Trời mùa thu nghe tiếng mẹ ru a ơi á ơi. A ơi ngọt ngào lời ru. Lời Mẹ ru khi sắp tàn thu a ơi á ời…Tạ ơn Đức Mẹ Tàpao, vì muôn phước lộc trời cao. Ở bên Đức Mẹ Tàpao, hồn say hương trời ngọt ngào. Về thăm núi rừng Tàpao, hồn nghe tiếng Mẹ trên cao. Ở bên Đức Mẹ Tàpao, hồn con không còn lao đao…Đứng trên triền non, quây quần bên Đức Mẹ cùng hát chung bài ca “Lời ru trước ngàn năm mới” ai ai cũng cảm thấy tâm hồn mình bay bổng, nhẹ nhàng, thanh thoát trong cõi thiêng liêng vời vợi.

Ngày 7 tháng 10 năm 1877 đức cha Mỹ-Colombert đặt viên đá đầu tiên. Công trình được tiến hành rất mau lẹ, với kinh phí lên đến 2.500.000 phậtlăng lúc bấy giờ. Chỉ trong hai năm rưỡi ngôi thánh đường được khánh thành vào Chúa Nhật 11 tháng 4 năm 1880. Năm giờ chiều hôm trước, đức cha Mỹ cung hiến nhà thờ, sau đó là cuộc cung nghinh Thánh Thể vĩ đại đi qua nhiều đường phố. Thánh đường Sài Gòn được thiết kế kiểu Rôma pha Gôtíc theo mô hình của kiến trúc sư Amêđê Buyra (Amédée Burat, 1809-1883), một nhà chuyên về địa chất học nổi tiếng người Pháp. Tường xây gạch trần mầu hường không thể phai sắc, mà đến rêu bụi cũng không bám được mua từ Mácxây bên Pháp chở sang. Tòa nhà dài 91 mét, rộng 35,5 mét, vòm cao 21 mét, hai tháp vuông cao 36,6 mét. Một bộ sáu chuông hòa âm, nặng tổng cộng đến 23.850 kí. Phải nói bấy giờ cả Đông Á chưa đâu có, đến cả nhiều nhà thờ chính tòa ở Pháp cũng thua. Bên trong nhà thờ trang trí rất công phu, mỹ thuật và ý nghĩa. Một bộ kính ngũ sắc diễn tả hai đoàn thánh Cựu và Tân Ước đến chào mừng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (bổn mạng thánh đường), một pho tượng bằng đá trắng tinh, tác phẩm của nhà điêu khắc Cômpara (Comparat). Bàn thờ chính bằng đá cẩm thạch quí có sáu thiên thần chống đỡ. Đàng Thánh Giá trạm trổ trên đá hoa, mỗi nơi là một bàn thờ cạnh bằng đá.

 

Năm 1895, hai tháp nhọn 21 mét được xây nối tiếp trên hai cây tháp vuông, đưa thánh đường đến chỗ cao nhất thành phố lúc bấy giờ. Bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình đặt trong công viên trước thánh đường, được xây dựng từ ngày 8 tháng 12 năm 1958 đã được đức hồng y Agagianian, quyền tổng trưởng thánh bộ Truyền Bá Đức Tin, làm phép trong dịp ngài được Đức Gioan XXIII cử làm đại diện đến Việt Nam chủ tọa đại hội Thánh Mẫu toàn quốc năm 1959, kỷ niệm đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức.

Ngày 9 tháng 12 năm 1959, đức cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã cử hành nghi thức cung hiến thánh đường

 

7. Trung tâm Fatima, Bình Triệu, Sài Gòn
Trung tâm Thánh Mẫu Fatima Bình Triệu khởi đầu trong những năm 1965-66. Khi ấy chỉ có một tượng đài Đức Mẹ trên bờ sông Sài Gòn với mấy nhà lá chung quanh. Nhiều người đến viếng Đức Mẹ và được ơn lạ. Bình Triệu phát triển từ ngày linh mục Phaolô Võ Văn Bộ về đây, lập tu hội Bác Ái năm 1968. Những nhà lá từ từ được thay thế bằng những nhà tường gạch mái ngói hoặc tôn, tiệm bán sách đạo và tượng ảnh thánh.
Ngày 7 tháng 1 năm 1973, đức tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến chủ lễ khánh thành và cung hiến thánh đường. Từ đấy Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ linh hướng tu hội Bác Ái, kiêm giám đốc trung tâm.

Sau ngày Việt Nam thống nhất, trung tâm Fatima Bình Triệu trở thành nhà thờ của giáo xứ Bình Triệu, dưới sự cai quản của cha Nguyễn Văn Lập.

(Tư liệu trích từ tác phẩm “150 Năm Giáo Phận Tây Đàng Trong, Tổng Giáo Phận Sài Gòn’’)

 
8. ĐỨC MẸ LA MÃ, BẾN TRE

Tại làng Hiệp Hưng, Tỉnh Bến Tre, thuộc Giáo Phận Vĩnh Long có một nơi gọi là Bầu Giơi. Nơi đây là một cánh đồng trũng bỏ hoang, cây cối mọc um tùm, là nơi dành cho chim cò giơi cú đến tụ họp. Dân chúng vùng này phần đông quây quần tụ họp chung quanh chợ Sơn Đốc, cách Bầu Giơi chừng hai cây số. 

Khoảng năm 1930, cha sở Cái Bông là cha Luca Sách ở gần đấy, sai một thầy đến giảng đạo và cất một ngôi nhà thờ nhỏ ở gần khu chợ để làm nơi phượng tự và giảng dạy những người tân tòng. Từ năm 1945, chiến tranh làm cho họ Cái Bông và Sơn Đốc không giao thông được với nhau. Mãi tới năm 1947, chiến tranh lan rộng, dân chúng Sơn Đốc phải tản cư hết, trong số đó có 11 gia đình tản cư lên Bầu Giơi. Thế là nhóm Công Giáo này không có Linh Mục chăm sóc. Mấy năm sau họ mới tiếp xúc được với xứ Cái Sơn do cha Phêrô Dư cai quản, cách xa tới 20 cây số. Sau đó một năm, dân làng Bầu Giơi cất được một ngôi nhà thờ làm nơi thờ phượng. Ngày 11 tháng 11 năm 1949 Đức Cha Vĩnh Long về làm phép Thêm Sức tại Cái Sơn, Ngài đã thân hành đến thăm Bầu Giơi và đổi tên là họ La Mã, Bến tre. Từ đó La Mã xuất hiện tại Việt Nam.

Nguyên khi lập nhà thờ Sơn Đốc năm 1930, Cha Luca Sách, Bổn Sở Cái Bông có tặng nhà thờ này một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp khám kiếng. Nhưng năm 1957, khi bổn đạo bỏ nhà cửa, đền thờ, chợ búa đi tản cư khắp nơi, ông già Nguyễn văn Hạt là trùm trong họ phải rước ảnh Đức Mẹ về nhà mình. Sau ông cho con trai là Nguyễn văn Thành mượn đem về nhà riêng.

Ngày mùng 2 tháng 2 năm 1957, có cuộc khủng bố đạo ở vùng này, gia đình anh Thành cũng như bao gia đình khác phải nhiều sự khốn khó, đến bức ảnh cũng bị mất tích, ông trùm Hạt rất buồn bã.

Một hôm vào đầu tháng năm, người láng giềng của nhà anh Thành tên là Võ thị Hiền đi xúc cá ngoài ven sông, vớt được một cái khung ảnh. Anh Thành nhận ra là cái khung ảnh Đức Mẹ của gia đình đã bị mất từ mấy tháng trước. Chị Hiền cho lại anh Thành. Anh đem khám đi rửa nhưng ảnh không còn nét chi nữa, ngoài mấy nét mờ mờ như nét viết chì. Nhân ngày ấy các bà phước đang tô điểm bàn thờ, chị vợ đã đến xin thuốc về cho chồng tô lại bức ảnh, nhưng các bà đã hết thuốc, lại bảo về nhà mua ảnh khác mà dùng chứ vẽ lại sao được.

Ảnh thật sự hư rồi, ảnh không còn để tôn kính được mà đem ra che mưa đỡ nắng ở nơi mái hiên nhà bị dột. Đến tháng tám năm ấy, vì tình thế chiến tranh, anh Thành là thanh niên nên cũng không thể ở nhà được, phải dọn sang Tam Bình là quê vợ để lánh nạn. Ông Hạt đến nhà dọn đồ cho con thấy bức ảnh vứt trong kẹt vách, lấy về đặt trên bàn thờ sáng tối cầu nguyện.

Hai tháng sau, ngày mùng 7 tháng 10 năm 1950, chiến sự lại diễn ra ngay trong khu vực Bầu Giơi, lửa đạn bắn ra tơi bời khiến dân làng phải chạy trốn. Ông Trùm Hạt cùng người con út không kịp chạy phải núp dưới tủ thờ cho qua cơn sóng gió. Lúc im tiếng súng, căn nhà ông đã bị tan nát vì đạn bắn, chỉ trừ nơi tủ thờ ông núp là còn nguyên vẹn, nhìn lên ảnh Đức Mẹ để tạ ơn thì ôi lạ lùng xiết bao! Bức ảnh mờ phai mục nát trước kia, sao đã sáng rõ mọi nét, tốt tươi mọi màu sắc từ lúc nào? Ông Trùm cảm động vô cùng. Với tâm hồn đơn sơ và thành tín của một ông già đạo đức nơi thôn dã, ông tin ngay là một phép lạ của Đức Mẹ: Đức Mẹ chẳng những đã cứu thoát hai cha con ông trong lúc nguy khốn cực điểm, lại còn hiển linh trên bức ảnh phai mờ mà xưa nay ông vẫn tôn kính và hết niềm cậy tin.
Hai mắt rướm lệ, ông Trùm Hạt cùng con quỳ xuống tạ ơn Đức Mẹ. Ngay chiều hôm đó ông Trùm Hạt đi nhà thờ cầu kinh, rồi kể cho hai bà phước nghe biết sự lạ đã xẩy ra trên bức ảnh của ông. Hai bà nói:– Để bức ảnh lại đây tôi giữ giùm, đợi khi nào La Mã dựng xong nhà thờ sẽ cho rước về.

Ngày 20 tháng 6 năm 1951, họ La Mã khánh thành ngôi nhà thờ mới, tuy cũng lợp lá sơ sài, nhưng khang trang rộng rãi hơn trước. Ngày 15 thang 8 năm 1951, nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ Lên Trời lần đầu tiên, kể từ khi Đức Giáo Hoàng Piô 12 ban sắc lệnh phải tin về tín điều Mẹ Lên Trời cả hồn cả xác này, Cha Phêrô Dự xin họ La Mã cho họ chánh xứ Cái Sơn mượn bức ảnh lạ về tôn kính trong một tuần 9 ngày. Chính ngày lễ Mẹ Mông Triệu, trước giờ hành lễ, người ta rước bức ảnh xung quanh nhà thờ, đến khi sắp đặt bức ảnh lên đài, cha Phêrô Dự đang sắp giảng, ngài nhìn lên bức ảnh cầu nguyện thì ôi! lạ lùng thay! ngài thấy trong bức ảnh một mũ triều thiên hiện thêm ra trên đầu Đức Mẹ. Ngài nhớ rõ bức ảnh trước đây không có triều thiên. Ngài quay ra chỉ cho bổn đạo thấy sự thay đổi lạ lùng ấy. Hàng ngàn người có mặt ở nhà thờ đều cảm động.

Ngày 12 tháng 1 năm 1952 Đức Cha Ngô Đình Thục đến viếng họ La Mã. Sau khi ở nhà thờ về, ngài hỏi cha Dự:

– Ủa! Sao trên đầu Đức Mẹ lại có cái triều thiên từ bao giờ? Lần trước tôi có thấy đâu?

Bấy giờ cha Dự mới kể cho ngài nghe câu chuyện xẩy ra hôm 15 tháng 8 năm 1951. Hiện nay nhiều người còn giữ được hình chụp bức ảnh trước ngày 15 tháng 8 năm 1951, nghĩa là khi chưa có mũ triều thiên trên đầu Đức Mẹ. Đó là tang chứng rất rõ ràng.

Một điều khác cũng đáng để ý, là khi bức ảnh mới vớt lên, vì ảnh gắn vào với kính, nên khi gỡ ra thủng nhiều chỗ. Bây giờ chẳng những chân dung Mẹ hiện lên rất đẹp, mà những chỗ thủng trước kia cũng biến mất, chỉ còn một lỗ ở phía sau. Tuy vậy mặt sau bức ảnh và trên cái khung gỗ, vẫn còn nhiều dấu vết do sự ngâm lâu dưới bùn và nước.

Một điều khác cũng đáng để ý, là khi bức ảnh mới vớt lên, vì ảnh gắn vào với kính, nên khi gỡ ra thủng nhiều chỗ. Bây giờ chẳng những chân dung Mẹ hiện lên rất đẹp, mà những chỗ thủng trước kia cũng biến mất, chỉ còn một lỗ ở phía sau. Tuy vậy mặt sau bức ảnh và trên cái khung gỗ, vẫn còn nhiều dấu vết do sự ngâm lâu dưới bùn và nước.

– Ngày mai chúa nhật, ông đem bức ảnh đến cho chúng tôi coi.
Sáng hôm sau ông đi lễ mang theo bức ảnh và hai bà nói:

– Qủa thiệt, hồi vớt bức ảnh lên thì mục nát phai mờ, mà bây giờ ảnh Mẹ đẹp tốt tươi thế này, ấy là Đức Mẹ thương ông lắm.

Các bổn đạo trong họ cũng đều nhận sự lạ lùng đã xẩy ra nơi bức ảnh. Ai nấy đều như phấn khởi và hân hoan vì đã thấy sự lạ, nhất là được thấy một bức ảnh đẹp chưa từng có.

Sau ông Trùm Hạt đưa ảnh tới Cái Bông cho cha sở cũ của mình là cha Sách coi. Ngài bảo:

Trung tâm Thánh Mẫu Fatima Bình Triệu khởi đầu trong những năm 1965-66. Khi ấy chỉ có một tượng đài Đức Mẹ trên bờ sông Sài Gòn với mấy nhà lá chung quanh. Nhiều người đến viếng Đức Mẹ và được ơn lạ. Bình Triệu phát triển từ ngày linh mục Phaolô Võ Văn Bộ về đây, lập tu hội Bác Ái năm 1968. Những nhà lá từ từ được thay thế bằng những nhà tường gạch mái ngói hoặc tôn, tiệm bán sách đạo và tượng ảnh thánh.
Ngày 7 tháng 1 năm 1973, đức tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đến chủ lễ khánh thành và cung hiến thánh đường. Từ đấy Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima. Cha Võ Văn Bộ linh hướng tu hội Bác Ái, kiêm giám đốc trung tâm.

Sau ngày Việt Nam thống nhất, trung tâm Fatima Bình Triệu trở thành nhà thờ của giáo xứ Bình Triệu, dưới sự cai quản của cha Nguyễn Văn Lập.

(Tư liệu trích từ tác phẩm “150 Năm Giáo Phận Tây Đàng Trong, Tổng Giáo Phận Sài Gòn’’)

 
 

8. ĐỨC MẸ LA MÃ, BẾN TRE

Tại làng Hiệp Hưng, Tỉnh Bến Tre, thuộc Giáo Phận Vĩnh Long có một nơi gọi là Bầu Giơi. Nơi đây là một cánh đồng trũng bỏ hoang, cây cối mọc um tùm, là nơi dành cho chim cò giơi cú đến tụ họp. Dân chúng vùng này phần đông quây quần tụ họp chung quanh chợ Sơn Đốc, cách Bầu Giơi chừng hai cây số. 

Khoảng năm 1930, cha sở Cái Bông là cha Luca Sách ở gần đấy, sai một thầy đến giảng đạo và cất một ngôi nhà thờ nhỏ ở gần khu chợ để làm nơi phượng tự và giảng dạy những người tân tòng. Từ năm 1945, chiến tranh làm cho họ Cái Bông và Sơn Đốc không giao thông được với nhau. Mãi tới năm 1947, chiến tranh lan rộng, dân chúng Sơn Đốc phải tản cư hết, trong số đó có 11 gia đình tản cư lên Bầu Giơi. Thế là nhóm Công Giáo này không có Linh Mục chăm sóc. Mấy năm sau họ mới tiếp xúc được với xứ Cái Sơn do cha Phêrô Dư cai quản, cách xa tới 20 cây số. Sau đó một năm, dân làng Bầu Giơi cất được một ngôi nhà thờ làm nơi thờ phượng. Ngày 11 tháng 11 năm 1949 Đức Cha Vĩnh Long về làm phép Thêm Sức tại Cái Sơn, Ngài đã thân hành đến thăm Bầu Giơi và đổi tên là họ La Mã, Bến tre. Từ đó La Mã xuất hiện tại Việt Nam.

Nguyên khi lập nhà thờ Sơn Đốc năm 1930, Cha Luca Sách, Bổn Sở Cái Bông có tặng nhà thờ này một bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp khám kiếng. Nhưng năm 1957, khi bổn đạo bỏ nhà cửa, đền thờ, chợ búa đi tản cư khắp nơi, ông già Nguyễn văn Hạt là trùm trong họ phải rước ảnh Đức Mẹ về nhà mình. Sau ông cho con trai là Nguyễn văn Thành mượn đem về nhà riêng.

Ngày mùng 2 tháng 2 năm 1957, có cuộc khủng bố đạo ở vùng này, gia đình anh Thành cũng như bao gia đình khác phải nhiều sự khốn khó, đến bức ảnh cũng bị mất tích, ông trùm Hạt rất buồn bã.

Một hôm vào đầu tháng năm, người láng giềng của nhà anh Thành tên là Võ thị Hiền đi xúc cá ngoài ven sông, vớt được một cái khung ảnh. Anh Thành nhận ra là cái khung ảnh Đức Mẹ của gia đình đã bị mất từ mấy tháng trước. Chị Hiền cho lại anh Thành. Anh đem khám đi rửa nhưng ảnh không còn nét chi nữa, ngoài mấy nét mờ mờ như nét viết chì. Nhân ngày ấy các bà phước đang tô điểm bàn thờ, chị vợ đã đến xin thuốc về cho chồng tô lại bức ảnh, nhưng các bà đã hết thuốc, lại bảo về nhà mua ảnh khác mà dùng chứ vẽ lại sao được.

Ảnh thật sự hư rồi, ảnh không còn để tôn kính được mà đem ra che mưa đỡ nắng ở nơi mái hiên nhà bị dột. Đến tháng tám năm ấy, vì tình thế chiến tranh, anh Thành là thanh niên nên cũng không thể ở nhà được, phải dọn sang Tam Bình là quê vợ để lánh nạn. Ông Hạt đến nhà dọn đồ cho con thấy bức ảnh vứt trong kẹt vách, lấy về đặt trên bàn thờ sáng tối cầu nguyện.

Hai tháng sau, ngày mùng 7 tháng 10 năm 1950, chiến sự lại diễn ra ngay trong khu vực Bầu Giơi, lửa đạn bắn ra tơi bời khiến dân làng phải chạy trốn. Ông Trùm Hạt cùng người con út không kịp chạy phải núp dưới tủ thờ cho qua cơn sóng gió. Lúc im tiếng súng, căn nhà ông đã bị tan nát vì đạn bắn, chỉ trừ nơi tủ thờ ông núp là còn nguyên vẹn, nhìn lên ảnh Đức Mẹ để tạ ơn thì ôi lạ lùng xiết bao! Bức ảnh mờ phai mục nát trước kia, sao đã sáng rõ mọi nét, tốt tươi mọi màu sắc từ lúc nào? Ông Trùm cảm động vô cùng. Với tâm hồn đơn sơ và thành tín của một ông già đạo đức nơi thôn dã, ông tin ngay là một phép lạ của Đức Mẹ: Đức Mẹ chẳng những đã cứu thoát hai cha con ông trong lúc nguy khốn cực điểm, lại còn hiển linh trên bức ảnh phai mờ mà xưa nay ông vẫn tôn kính và hết niềm cậy tin.
Hai mắt rướm lệ, ông Trùm Hạt cùng con quỳ xuống tạ ơn Đức Mẹ. Ngay chiều hôm đó ông Trùm Hạt đi nhà thờ cầu kinh, rồi kể cho hai bà phước nghe biết sự lạ đã xẩy ra trên bức ảnh của ông. Hai bà nói:– Để bức ảnh lại đây tôi giữ giùm, đợi khi nào La Mã dựng xong nhà thờ sẽ cho rước về.

Ngày 20 tháng 6 năm 1951, họ La Mã khánh thành ngôi nhà thờ mới, tuy cũng lợp lá sơ sài, nhưng khang trang rộng rãi hơn trước. Ngày 15 thang 8 năm 1951, nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ Lên Trời lần đầu tiên, kể từ khi Đức Giáo Hoàng Piô 12 ban sắc lệnh phải tin về tín điều Mẹ Lên Trời cả hồn cả xác này, Cha Phêrô Dự xin họ La Mã cho họ chánh xứ Cái Sơn mượn bức ảnh lạ về tôn kính trong một tuần 9 ngày. Chính ngày lễ Mẹ Mông Triệu, trước giờ hành lễ, người ta rước bức ảnh xung quanh nhà thờ, đến khi sắp đặt bức ảnh lên đài, cha Phêrô Dự đang sắp giảng, ngài nhìn lên bức ảnh cầu nguyện thì ôi! lạ lùng thay! ngài thấy trong bức ảnh một mũ triều thiên hiện thêm ra trên đầu Đức Mẹ. Ngài nhớ rõ bức ảnh trước đây không có triều thiên. Ngài quay ra chỉ cho bổn đạo thấy sự thay đổi lạ lùng ấy. Hàng ngàn người có mặt ở nhà thờ đều cảm động.

Ngày 12 tháng 1 năm 1952 Đức Cha Ngô Đình Thục đến viếng họ La Mã. Sau khi ở nhà thờ về, ngài hỏi cha Dự:

– Ủa! Sao trên đầu Đức Mẹ lại có cái triều thiên từ bao giờ? Lần trước tôi có thấy đâu?

Bấy giờ cha Dự mới kể cho ngài nghe câu chuyện xẩy ra hôm 15 tháng 8 năm 1951. Hiện nay nhiều người còn giữ được hình chụp bức ảnh trước ngày 15 tháng 8 năm 1951, nghĩa là khi chưa có mũ triều thiên trên đầu Đức Mẹ. Đó là tang chứng rất rõ ràng.

Một điều khác cũng đáng để ý, là khi bức ảnh mới vớt lên, vì ảnh gắn vào với kính, nên khi gỡ ra thủng nhiều chỗ. Bây giờ chẳng những chân dung Mẹ hiện lên rất đẹp, mà những chỗ thủng trước kia cũng biến mất, chỉ còn một lỗ ở phía sau. Tuy vậy mặt sau bức ảnh và trên cái khung gỗ, vẫn còn nhiều dấu vết do sự ngâm lâu dưới bùn và nước.

Một điều khác cũng đáng để ý, là khi bức ảnh mới vớt lên, vì ảnh gắn vào với kính, nên khi gỡ ra thủng nhiều chỗ. Bây giờ chẳng những chân dung Mẹ hiện lên rất đẹp, mà những chỗ thủng trước kia cũng biến mất, chỉ còn một lỗ ở phía sau. Tuy vậy mặt sau bức ảnh và trên cái khung gỗ, vẫn còn nhiều dấu vết do sự ngâm lâu dưới bùn và nước.

– Ngày mai chúa nhật, ông đem bức ảnh đến cho chúng tôi coi.
Sáng hôm sau ông đi lễ mang theo bức ảnh và hai bà nói:

– Qủa thiệt, hồi vớt bức ảnh lên thì mục nát phai mờ, mà bây giờ ảnh Mẹ đẹp tốt tươi thế này, ấy là Đức Mẹ thương ông lắm.

Các bổn đạo trong họ cũng đều nhận sự lạ lùng đã xẩy ra nơi bức ảnh. Ai nấy đều như phấn khởi và hân hoan vì đã thấy sự lạ, nhất là được thấy một bức ảnh đẹp chưa từng có.

Sau ông Trùm Hạt đưa ảnh tới Cái Bông cho cha sở cũ của mình là cha Sách coi. Ngài bảo:

 

 
9. Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu, Vũng Tàu

Năm 1926, sườn núi và khu đất bằng khoảng 10 mẫu, khởi đầu mang tên Vũng Mây, do ông Lê Hữu Lương, một giáo dân giáo xứ Vũng Tàu, ghi danh khai thác với nhà nước từ ngày 9 tháng 4 năm 1926. Liền sau đó (14.4.1926) ông Lương chuyển lại cho ông bà Nguyễn Hồng Ân quen gọi là Vệ Ân (quốc tịch Pháp, chức vệ úy). Cũng năm 1926, ông bà Vệ Ân xây nhà nguyện đá, bên cạnh là “kim tĩnh” mong sau này được chôn cất tại đó (nhưng sau này hai ông bà dời đi Bà Rịa và qua đời ở đấy).
Năm 1963, Đức Cha Phaolô Nguyễn Văn Bình, Tòa Giám Mục Sài-Gòn làm phép khánh thành Tượng Đài Đức Mẹ Ban Ơn.

Ngày 04.10.1965 Giáo Phận Xuân Lộc được thành lập. Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn, Giám mục tiên khởi, đã chính thức công bố Bãi Dâu là trung tâm Thánh Mẫu của Giáo Phận Xuân Lộc, ngài cho cất 14 đàng Thánh giá, xây nhà nghỉ mát, và đã nhiệt tình tổ chức các cuộc hành hương trọng thể kính Đức Mẹ Maria.

Nhiều người giáo dân trong Giáo Phận không bao giờ quên được cuộc cung nghinh Đức Mẹ của toàn giáo phận vào tháng 5.1973. Hằng mấy chục ngàn người và hằng trăm ghe thuyền lớn nhỏ tuốn về Bãi Dâu cử hành một cuộc rước kiệu lớn nhất lúc bấy giờ để tôn vinh Đức Mẹ. Các vị Giám Mục kế nhiệm tiếp nối làm cho Bãi Dâu càng ngày càng thu hút nhiều người về hành hương kính Đức Mẹ.
Năm 1992, ngày đầu năm, kính Đức Mẹ Thiên Chúa, Đức Cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật, Giám Mục Xuân Lộc đặt viên đá trùng tu trung tâm hành hương. Tuợng đài đuợc thay thế bằng tuợng Ðức Mẹ Thiên Chúa cao 25 mét, kể cả Chúa Con 27,5 mét.

Năm 1994, Tượng Đức Maria Mẹ Thiên Chúa đã được làm phép và khánh thành ngày 31.12.1994, với sự chủ lễ của Đức Giám Mục Xuân Lộc Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật. Sau này, nhà nguyện đá đuợc di chuyển xuống chân núi, nhuờng chỗ cho một nhà thờ mái vòm có sức chứa 1 (một) ngàn nguời, đã đuợc kiến thiết. Mặt bằng phía duới đã đuợc cải tạo, thành một công truờng có khả năng chứa 100 (một trăm) ngàn nguời. Tượng Đức Mẹ Ban Ơn đã bao năm đứng bên bờ đại dương được tháo gỡ và đưa về đài mới tại Giáo Xứ Sao Mai, ngày 10.03.1995 và khách hành hương vẫn còn đưa bước về Sao Mai kính Mẹ Ban Ơn lành. Ngày nay, người người tìm về Bãi Dâu để cầu nguyện và kính viếng đất Mẹ càng ngày càng đông.

Năm 2005, Hội đồng Giám mục Việt nam đã họp thường niên tại đây.

 
Nguồn: ngonnennho.net

 
 
2. Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi,
Gp Phát Diệm, Tỉnh Ninh bình

Cũng phải nhắc đến thánh đường Phát Diệm kính Đức Mẹ Mân Côi, một trong những kiệt tác tôn giáo văn hóa thời danh nhất tại Việt Nam. Gặp thời kỳ Văn Thân lộng hành, giết hại và gây vô vàn khốn khổ cho giáo hữu. Ngay tại Phát Diệm, hai xứ Kẻ Dừa và Kẻ Bền đã có những vụ giáo dân bị giết tập thể. Cụ Sáu Trần Lục hội họp giáo dân và long trọng khấn hứa: nếu giáo xứ Phát Diệm thoát được bọn sát nhân, cha sẽ xây thánh đường lộng lẫy.

Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi hoàn tất, cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895.

 

Vật liệu là gỗ lim, nặng tới mười tấn mỗi khúc, từ trên rừng Nghệ An Thanh Hóa và Sơn Tây cách xa 200 cây số. Những tảng đá đến 7,3 mét nặng cả 20 tấn, lấy từ trên núi Thiện Dưỡng cách đấy 30 cây số. Tất cả được vận chuyển bằng phương tiện thô sơ thời ấy. Những người thợ kiên nhẫn tài ba từ khắp xứ Bắc đã đến Phát Diệm đục chạm, đánh bóng, cùng tô điểm những cây cột khổng lồ, những tấm đá hoa đủ mầu sắc.

Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm 100 năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.

Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí. Sau khi thăm thánh đường lớn, khách có thể có thể xem các công trình phụ khác: các nhà thờ cạnh cũng theo lối kiến trúc Đông Phương và hang đá.

(Trích từ tác phẩm Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam)
 

Năm 1991, kỷ niệm 100 năm nhà thờ lớn Phát Diệm, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã cho mở Năm Thánh, từ ngày 7 tháng 10 năm 1990 đến ngày 7 tháng 10 năm 1991. Ngày hôm trước bế mạc Năm Thánh, nhà thờ đã được cung hiến trọng thể.

Năm 1933, một ngôi Đền thánh khác đã được xây dựng lại ngay, và hoàn tất vào năm 1933, lớn hơn ngôi Đền cũ. Đền này hiện tồn tại tới ngày nay (năm 2005).

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

SUY NIỆM LỄ ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Posted by phunhai trên 11/11/2010


Giáo lý Hội Thánh dạy rằng trong tất cả con cái loài người, chỉ có một mình Đức Mẹ là không vướng mắc tội nguyên tổ và cũng không phải chịu bất cứ một hậu quả nào do tội nguyên tổ gây ra. Giáo hội gọi đó là đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Vô Nhiễm Nguyên Tội, đặc ân vượt lên trên các chứng từ Thánh Kinh.
Người ta có thể đặt câu hỏi rằng Đức Mẹ cũng là một con người được sinh ra bởi một người nam và một người nữ như ai, tại sao Đức Mẹ lại thoát khỏi Nguyên tội ? Và nếu Đức Mẹ không mắc tội nguyên tổ và tội riêng, vậy thì Đức Mẹ có cần đến ơn cứu độ không ? Phải khẳng định ngay là Đức Mẹ cũng cần đến ơn cứu độ của Chúa Kitô như mọi người. Tuy nhiên ơn cứu độ ấy được Thiên Chúa áp dụng một cách đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ là Thiên Chúa đã dùng trước công nghiệp của Chúa Kitô mà bảo vệ cho Mẹ khỏi vướng mắc tội nguyên tổ và mọi tội riêng.

Vô Nhiễm Nguyên Tội, đặc ân đến từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa.
Vô Nhiễm Nguyên Tội không phải là tự bản chất của Mẹ, nhưng là hoa trái của ơn cứu độ đến từ Đức Kitô, mà Mẹ người độc nhất vô nhị được hưởng trước (tiên hưởng). Nói cách vắn gọn, qua đặc ân này, Thiên Chúa đã thực hiện một ngọai lệ đối với Đức Mẹ. Và việc Mẹ được Chúa ban thưởng như thế, cũng chẳng phải vì Mẹ đã có công trạng lớn lao trước mặt Thiên Chúa, nhưng hoàn toàn là do lòng ưu ái, do tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Dĩ nhiên là cũng phải có sự cộng tác đặc biệt của Mẹ qua lời thưa xin vâng và lòng tín thác tuyệt đối vào tình yêu của Thiên Chúa.

Vô Nhiễm Nguyên Tội, đặc ân không chỉ dành riêng cho một mình Đức Mẹ.
Có người đặt vấn đề : Tại sao Đức Mẹ lại được Thiên Chúa ưu ái đến như vậy ? Phải chăng là có sự thiên vị ? Chúng ta có thể mạnh dạn quả quyết rằng mặc dù chỉ một mình Đức Mẹ được Thiên Chúa ban cho đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, nhưng không phải để phục vụ cho lợi ích của Mẹ mà là để phục vụ công trình cứu độ của Thiên Chúa. Nói khác đi, đặc ân ấy được ban cũng là vì nhân loại chúng ta. Thế có nghĩa là gì ? Nghĩa là nếu không có đặc ân này thì sẽ không có đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa. Và nếu không có đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa, thì Ngôi Hai sẽ không Nhập thể làm người để cứu độ chúng ta theo cách thức mà Thiên Chúa muốn. Như vậy, xét cho cùng đặc ân Vô Nhiễm là liên hệ đến ơn cứu độ của chúng ta.

Tâm tình của chúng ta khi mừng lễ hôm nay là gì ?

– Tâm tình trước hết phải là tâm tình tạ ơn Chúa vì Ngài đã ban đặc ân Vô Nhiễm cho Mẹ để chuẩn bị cho Mẹ trong thiên chức làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa. Tạ ơn vì Mẹ được Chúa ban cho nhiều ân huệ. Mẹ có nhiều ân huệ để ban lại cho chúng ta là những người con của Mẹ.

– Tâm tình thứ đến là tâm tình yêu mến. Nếu chúng ta có một người Cha tuyệt hảo là chính Thiên Chúa, thì chúng ta cũng có một người Mẹ tuyệt mỹ là chính Đức Trinh Nữ Maria. Tuyệt mỹ vì Mẹ không vướng tội nguyên tổ và một tội riêng nào. Đó là lý do khiến chúng ta hãnh diện, tự hào và yêu mến Mẹ hơn mọi thụ tạo khác.

– Tâm tình sau nữa là tâm tình cậy trông. Đức Mẹ là một thụ tạo được cứu độ cách đặc biệt và trọn hảo. Đó là niềm hy vọng tràn đầy cho chúng ta và là bảo chứng chắc chắn rằng chúng ta cũng sẽ được cứu độ như thế. Gương mẫu và lời cầu bầu của Mẹ là động lực thúc đẩy chúng ta nên giống Mẹ ở đích cuối cùng là sạch tội. Và vì thế chúng ta cũng sẽ được Thiên Chúa ban thưởng hạnh phúc Nước Trời cùng Mẹ.

Xin Mẹ giúp chúng ta sống trọn vẹn tâm tình của ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm, nhất là luôn nỗ lực sống yêu mến và phó thác. Như Mẹ đã sống.
Amen.

(Sưu tầm trên Internet)

 

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

Một vài nét về Làng Phú Nhai

Posted by phunhai trên 09/11/2010

Tác giả Blog muốn tìm trên mạng internet về lịch sử Làng Phú Nhai nhưng gần như không có thông tin được lưu trữ trên mạng internet. Sau một hồi loay hoay tìm kiếm thì tìm được một đoạn viết về gương Linh mục là Cha Giuse Maria Hoàng Gia Huệ sinh tại làng Phú nhai, tỉnh Nam định. Thiết nghĩ đây cũng là một thông tin hữu ích cho chúng ta biết đôi nét phác thảo về Làng Phú Nhai và Vương cung Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội Phú Nhai. Sau đây xin được trích một phần trong chương một nói về Sinh quán – Gia tộc của vị Linh mục này có liên quán đến Phú Nhai.

LÀNG PHÚ NHAI

Theo địa dư hành chánh, làng Phú nhai nằm trên một khoảng đất chừng 3 cây số vuông, thuộc tỉnh Nam định: đông giáp xã Trà Đông và Trà Đoài, tây giáp xã Xuân Hy, nam giáp xã Trà Trung, bắc giáp xã Trà Bắc. Làng Phú nhai chia thành 7 xóm: Xóm Bắc, xóm Phụ, xóm Đông, xóm Nam, xóm Phan, xóm Đoài Nhất, và xóm Đoài Nhị.

Theo địa dư tôn giáo, Xứ Phú nhai thuộc Giáo phận Bùi chu. Dân số khoảng 8 ngàn người Công giáo, chia thành họ nhà xứ (khoảng 2 ngàn người toàn tòng Công giáo) và 8 họ lẻ là : Họ Đức Bà, họ Thánh Giuse, họ Bắc Tỉnh, họ Thôn Đông, họ Trái Tim, họ Thất Sự, họ Kính Danh, họ Nam Điền. Dân số những họ lẻ này chỉ có chừng 20 % theo đạo Chúa, phần còn lại, hầu hết còn theo đạo Ông Bà Tổ Tiên.

Phú nhai nằm tại trung tâm vùng Trà Lũ. Đây là địa danh được nói tới trong Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục về việc truyền giáo đầu tiên cho người Việt Nam như sau: “Năm Nguyên hòa nguyên niên (1533) đời Lê Trang Tôn, có một dương nhân tên là Inikhu đi đường biển lén vào giảng đạo Giatô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Chỉ” (chương 33, 6B).

ĐỀN THÁNH ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Giữa làng nổi bật lên ngôi Đền Thánh nguy nga dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Nhiều người còn gọi là “Thánh đường thực thi lời khấn”. Lý do là năm 1858, vua Tự Đức ra lệnh cấm đạo Công giáo rất gắt gao, lại thêm ông Tổng đốc Tỉnh Nam định tên là Trịnh Quang Khanh vừa ghét đạo, vừa muốn lập công với triều đình, nên càng lùng bắt giáo dân dữ dội. Trước tình thế đó, Đức Giám mục Berio Ochoa (Vinh) đang là Giám mục Giáo phận Bùi chu và cha chính Riano (Hòa) đã cùng nhau tha thiết khấn xin Đức Mẹ với lời đoan thệ: “Nếu Đức Mẹ ban bình an cho Giáo phận, chúng con sẽ xin tôn nhận Mẹ là Quan Thầy (Bổn mạng) Giáo phận, và sẽ xây cất một đền thờ dâng kính để nhớ ơn Đức Mẹ mãi mãi”.

Lời khấn cầu đã được Đức Mẹ nhận, Giáo phận dần dần đã được bình an, giáo sĩ, giáo dân dần dần hồi phục, kẻ bỏ đạo đã biết thống hối ăn năn, mọi người sống đạo nhiệt thành hơn trước.

Năm 1881, cha chính Riano Hòa làm Giám mục Giáo phận Bùi chu, người cùng với cha chính Isaac Barquero (Ninh) khởi sự xây Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm Phú nhai.

Khi tuyên bố nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm là Quan Thầy Giáo phận, Đức cha Hòa đưa ra sáng kiến: Hàng năm sẽ tổ chức lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm trọng thể, mời tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân trong Giáo phận về Phú nhai để mừng lễ tạ ơn Đức Mẹ.

Năm 1923, ngôi Đền Thánh đồ sộ nguy nga, có thể nói là lớn nhất Việt Nam đã hoàn thành. Ngày khánh thành là ngày 8 tháng 12, do Đức Giám mục Mũnagori bấy giờ là Giám mục Bùi chu chủ tọa. Lễ Quan Thầy năm nay, hầu hết các linh mục và trên 50 ngàn giáo dân từ các nơi trong Giáo phận về tham dự. Rất tiếc, ngôi Đền Thánh này đã bị sụp đổ vì cơn bão lớn vào năm 1929, nhưng một ngôi Đền khác đã được xây dựng lại ngay, và hoàn tất vào năm 1933, lớn hơn ngôi Đền cũ. Đền này hiện tồn tại tới ngày nay (1996, năm viết tập sách này).

Mỗi dịp lễ Quan Thầy, giáo dân xứ Phú nhai sửa sang đường sá, trang hoàng Đền Thánh. Hàng trăm cây cột bằng trúc (một thứ tre cứng) sơn trắng cắm cờ Đức Mẹ (mầu xanh trắng) và cờ Tòa Thánh Vatican (mầu vàng trắng) dựng chung quanh Đền Thánh. Ngoài ra, 7 xóm còn dựng 7 cây đèn cốn (một bó tre già ngâm nước lâu ngày buộc lại. Đối với người dân miền đồng bằng Bắc Việt, tre dễ kiếm hơn gỗ). Đèn cốn cao tới 3, 4 chục mét, được đứng vững nhờ nhiều sợi dây buộc từ thân cây đèn chạy xuống nhiều phía. Thân cây đèn cốn được bọc vải trắng, và từng khúc lại có đai đỏ buộc chung quanh coi rất đẹp mắt. Trên ngọn đèn cốn cắm mấy lá cờ nhỏ, giữa thân đèn kéo cờ ngũ hành (năm sắc xanh, đỏ, trắng, tím, vàng) thật lớn. Buổi tối, người ta kéo lên nhiều giây đèn chai( chai được biến thành chiếc đèn đựng dầu, thời đó miền này chưa có điện) đốt sáng suốt đêm.

Ngày 11.3.1935, Đức cha Đaminh Maria Hồ Ngọc Cẩn (vị Giám mục người Việt nam thứ hai), được Tòa Thánh chỉ định làm Phó Giám mục Bùi chu với quyền thế vị Đức cha Mũnagori Trung. Vì bổn mạng của Đức tân Giám mục là Đaminh, nên lễ kính thánh Đaminh (gọi là lễ Đầu Dòng) năm 1935 được tổ chức trọng thể khác thường, với 15 cây đèn cốn, khán đài dựng ngoài trời, cuối Đền Thánh, hai Đức cha và các cha đi thuyền rồng từ Bùi chu tới Phú nhai, có những người đẩy và kéo thuyền mặc đồng phục (quần trắng, áo nẹp, nón lá) chỉnh tề. Các hội đoàn của 20 giáo xứ thuộc hạt Bùi chu và Phú nhai, với các nhạc cụ như kèn, trống, trắc (2 que gỗ đập vào nhau), bắc nhạc, các vị có chức tước trong các xứ y phục chỉnh tề nghinh đón. Khi thuyền rồng tới đầu làng, hai Đức cha lên trạm mặc phẩm phục, theo kiệu thánh Đaminh về tới khán đài, chầu Phép Lành Thánh Thể, đến tối pháo bông được đốt lên càng làm cho cuộc đón tiếp hai Đức cha thêm long trọng.

TINH THẦN SỐNG ĐẠO CỦA GIÁO DÂN PHÚ NHAI

Dân làng Phú nhai tới hơn một nửa làm nghề nông (trồng lúa), chừng 20% dệt chiếu (bằng sợi cây cói, một thứ cây nhỏ, thân xdìỏ, cao chừng 2 mét) đủ cỡ đem bán khắp các chợ. Số còn lại làm thợ mộc, thợ xây, thợ bạc, thêu cờ ảnh, áo lễ…Dân làng không có nhiều người giầu, cũng không có nhiều người quá nghèo, ngày ngày cùng nhau dự Thánh lễ buổi sáng, và đọc kinh Văn côi buổi chiều tại Đền Thánh. Buổi trưa, các ông bà dòng Ba thánh Đaminh, các em đoàn Thiếu nhi nam nữ tới cầu nguyện, chầu Thánh Thể theo tổ chức đoàn hội.

Nói chung, ai cũng cố gắng chăm làm, sống thật thà và thương yêu nhau.

Mỗi dịp lễ Quan Thầy Giáo phận, nhà nào cũng lo quét dọn sạch sẽ và mua sắm những thứ cần thiết để tiếp đón khách từ khắp Giáo phận về dự lễ.

ƠN THIÊN TRIỆU

Có thể nói, Phú nhai là nơi phát triển ơn gọi tu trì vào bậc nhất Giáo phận sánh với các giáo xứ khác. Không kể một số lớn chủng sinh, tu sĩ nam nữ, còn có hơn 40 linh mục phục vụ các giáo xứ, 4 Đức Giám mục gốc Phú nhai là: Đức cha Đaminh Hoàng Văn Đoàn, OP, Đức cha Đaminh Đinh Đức Trụ, Đức cha Đaminh Lê Hữu Cung, và Đức cha Đaminh Đinh Bỉnh. Phải chăng đây là kết quả, ơn phúc các Thánh Tử đạo, và nhờ gương sáng đạo hạnh của các Tổ tiên. Phú nhai được 6 Thánh tử đạo do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong ngày 19.6.1988. Ngoài ra còn có 20 Vị Tôi tá Chúa có hồ sơ đầy đủ tại Bộ Phong Thánh hiện nay.

(Sưu tầm trên internet)

Posted in Lịch sử | Leave a Comment »

ĐẤNG VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

Posted by phunhai trên 09/11/2010

Câu truyện

Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội có một lịch sử lâu dài và gây nhiều tranh luận. Theo đó, kể từ giây phút được tượng thai trong lòng thân mẫu, Đức Maria không bị vương mắc nguyên tội.

Trên nền tảng Thánh Kinh, tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội trước tiên dựa vào việc nhìn nhận Đức Maria là Evàø Mới. Thư gửi giáo đoàn Rôma và thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô đều mô tả Chúa Kitô là Ađam Mới; Ađam đã cần Evà trợ giúp, thì Ađam Mới cũng cần Evà Mới trợ giúp, và vai trò ấy đã được Đức Maria đảm nhiệm. Chúng ta biết trình thuật Sáng Thế Ký 3:15 – nói về một người nữ có miêu duệ sẽ đạp dập đầu rắn – là lời tiên báo về việc Evà Mới sẽ ra đời. Trong Phúc Âm thánh Gioan, tại tiệc cưới Cana và dưới chân thập giá, Chúa Giêsu đã gọi Đức Maria là “Bà” được coi là lời xác nhận vai trò Evà Mới, tức là Người Mẹ của Mọi Người, của Đức Maria. Vì Evà đã được tạo dựng tinh tuyền, không vướng mắc tội lỗi, nên điều hợp lý là Đức Maria, Evà Mới, cũng được đầu thai Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Thứ hai, tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được suy diễn từ việc Thánh Kinh công nhận Đức Maria là Đấng “Đầy Ơn Phúc.” Trong Phúc Âm thánh Luca, sứ thần Gabriel đã chào kính người thôn nữ Nazareth: “Kính chào, Đầy Ơn Phúc!” (1:28) – sát nghĩa là người “sung mãn ơn thánh” hoặc “được sủng ái.” Thiên Chúa đã hết lòng sủng ái, ban ơn gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội riêng suốt đời và làm cho Mẹ trở nên người duy nhất Toàn Thánh. Nhiều giáo phụ như Justin, Irenaeus, Ambrose, Augustine, Tertullian, Origen đã trình bày chủ đề này và ca ngợi sự tinh tuyền của Đức Maria.

Chính thánh Thomas Aquinas (1225-1274) đã giải thích một cách có phương pháp về việc Đức Maria là Đấng Toàn Thánh. Có thể nói: đối với những người được tuyển chọn đảm nhận một nhiệm vụ đặc biệt, Thiên Chúa sẽ chuẩn bị cho họ có đầy đủ khả năng để thực hiện nhiệm vụ ấy; vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Đức Maria 0làm Mẹ Chúa Giêsu, nên nhất định Người cũng làm cho Mẹ xứng đáng với nhiệm vụ ấy. Không ai phạm tội mà lại xứng đáng làm Mẹ Thiên Chúa; vì thế, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội riêng.

Tuy nhiên, thánh Thomas đã không đi đến cùng để minh chứng Đức Maria được đầu thai Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cùng với thánh Bernard, thánh Bonaventura và nhiều vị khác, thánh Thomas tin rằng mọi cuộc thụ thai tự nhiên, kể cả trường hợp của Đức Maria, đều truyền thụ tội nguyên tổ. Sau cùng, chân phước Johannes Duns Scotus (c. 1265-1308) đã minh giải vấn nạn này mà vẫn bảo toàn được sự hoàn hảo của ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện: Đức Maria đã được Con Mẹ cứu chuộc cách tuyệt hảo nhất, khi Người gìn giữ Mẹ khỏi mọi tội lỗi, kể cả tội nguyên tổ, ngay từ giây phút được tượng thai.

Kể từ thời chân phước Duns Scotus, niềm tin Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội đã được chính thức công nhận. Năm 1439, công đồng Basle đã xác nhận tín điều này, và năm 1476, Đức Sixtus IV đã chuẩn nhận lễ kính Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội ngày 8 tháng Mười Hai, như vẫn được mừng trong nhiều thế kỷ trước đó. Năm 1708, Đức Clement XI qui định thành lễ buộc. Sau cùng, năm 1854, chân phước Pius IX giáo hoàng đã ban hành bửu sắc Ineffabilis Deus tuyên bố rằng, Chúng tôi tuyên xưng, công bố, và định tín giáo lý xác nhận Đức Trinh Nữ Maria – ngay từ giây phút đầu tiên được đầu thai, nhờ một ơn thánh cá biệt và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, dựa trên những công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ của nhân loại – đã được gìn giữ khỏi mọi tơ vương của tội nguyên tổ là một giáo lý đã được Thiên Chúa mặc khải, và vì thế, phải được mọi tín hữu tin nhận vững vàng và bền vững.

Điểm đáng chú ý là tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là giáo huấn giáo hoàng đầu tiên đã được công bố một cách vô ngộ, mặc dù giáo lý về đặc ân vô ngộ của quyền giáo hoàng mãi đến năm 1870 mới được chính thức tuyên nhận.

Vào năm 1858, tức là chỉ vài năm sau sự kiện định tín của Đức Pius IX, Đức Trinh Nữ Maria đã hiện đến với Bernadette Soubirous tại Lộ đức. Và khi thánh nữ muốn biết thánh danh Mẹ, Mẹ Maria đã xưng mình, “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Hiện nay, cụm từ Vô Nhiễm Nguyên Tội dường như chú trọng đến chiều hướng tiêu cực, tức là tình trạng không có tội lỗi và được giữ gìn khỏi mọi tơ vương nguyên tội. Vì nhiều người đã nhìn thấy chiều hướng có thể gây hại ấy, nên Giáo Hội đã bắt đầu trình bày tín điều này bằng những từ ngữ tích cực, nhìn nhận Đức Maria suốt đời đã được gìn giữ trong tương giao thân hữu với Thiên Chúa. Như thế, Đức Maria luôn luôn là người đón nhận ơn thánh tuyệt vời của Thiên Chúa, hoặc như lời chân phước Duns Scotus – nhờ công trình cứu độ hoàn hảo của Chúa Kitô, Đức Maria đã được đầy ơn thánh ngay từ giây phút đầu thai. Những tuyên bố tích cực này rất lợi ích vì xác nhận được cả đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria lẫn địa vị tối thượng của Chúa Kitô trong tư cách là Đấng Cứu Độ, và qua đó, hướng dẫn các tín hữu nhờ Đức Maria mà đến cùng Chúa Kitô.

LỜI KINH TRUYỀN THỐNG

Lạy Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, rất tinh tuyền thánh thiện, hợp cùng toàn thể các thánh trên trời và các người lành dưới thế, với lòng sốt mến thành tâm, con xin hiến dâng trái tim con cho Mẹ. Con nài xin Mẹ đón nhận lòng tôn kính, tình yêu và niềm tin của con. Ôi Nơi Nương Ẩn của Tội Nhân, trong thảm trạng hiện tại của mình, con nài xin Mẹ hãy dùng hết khả năng ảnh hưởng của Mẹ trên thiên đàng mà mưu ích cho con.

Xin Mẹ dâng lời thỉnh nguyện tha thiết của con lên Thiên Chúa và xin cho con [kể ra]. Ôi Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội Rất Thánh, xin chăm sóc và yêu thương con, bây giờ và mãi mãi. Amen.

LỜI KINH MỚI

Lạy Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, con ca ngợi Mẹ vì Thiên Chúa đã qua Mẹ mà thực hiện bao điều kỳ diệu.

Lạy Evà Mới, con ca ngợi Mẹ vì Thiên Chúa đã làm cho Mẹ trở nên một khởi đầu mới cho nhân loại.

Lạy Đấng Toàn Thánh, con ca ngợi Mẹ vì Thiên Chúa đã ban cho Mẹ nên thánh thiện cao vời đến độ xứng đáng trở nên Mẹ Đấng Cứu Độ của chúng con.

Lạy Đấng Đầy Ơn Phúc, con ca ngợi Mẹ vì Thiên Chúa đã ban cho Mẹ sung mãn ơn thánh để sự sung mãn ấy dư tràn cho những nhu cầu của chúng con.

Lạy Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, con ca ngợi và cám tạ Mẹ vì qua Mẹ, Thiên Chúa đã thực hiện những điều kỳ diệu cho chúng con. Amen.

Nguồn: dongcong.net

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »

TRÁI TIM VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI (Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội)

Posted by phunhai trên 09/11/2010

Câu truyện

Nhiều bức hình Đức Mẹ hiện nay minh họa Trái Tim Vô Nhiễm với những vòng gai bao quanh, trên có hình thập giá hoặc những ngọn lửa, và bị một lưỡi gươm đâm thâu. Các minh họa này thường có liên hệ đến những cuộc linh khải, khi Đức Maria tỏ ra hoặc kêu gọi hãy tôn kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ. Nhờ đó, hiện nay lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria đã được phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, lòng yêu mến này không phải là một trào lưu mới đây, bởi vì Trái Tim Mẹ đã được nói đến trong Thánh Kinh.

Phúc Âm thánh Luca kể lại thái độ của Đức Maria trước sự kiện các mục đồng được nhìn thấy ca đoàn thiên thần: “Maria ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy niệm trong tâm hồn” (2:19). Sau đó, thánh sử còn nhắc đến những lời cụ Simêôn nói tiên tri với Đức Maria: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (2:35) – theo ngôn ngữ Do Thái thời xưa, tâm hồn đồng nghĩa với trái tim. Một lần khác, khi ghi lại biến cố trẻ Giêsu bị lạc mất ba ngày trong Đền Thờ, và sau đó, cùng với cha mẹ trở về làng Nazareth, thánh Luca đã viết, “Mẹ Người ghi nhớ tất cả những sự kiện ấy trong tâm hồn” (2:51). Thường các bậc cha mẹ không biểu lộ ra bên ngoài niềm vui khi được sống bên con cái, và Đức Maria cũng không ngoại lệ, như Phúc Âm đã cho thấy.

Các bậc cha mẹ đôi khi cũng không bộc lộ những nỗi đau họ phải chịu vì con cái. Và một lần nữa, Đức Maria cũng không ngoại lệ, vì Mẹ đã âm thầm đứng lặng dưới chân thập giá.

Từ thời Trung Cổ đã có một số thánh nhân và nhà thần bí có lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria – chẳng hạn thánh Anselm, thánh Bernard, thánh nữ Gertrude và thánh nữ Brigid nước Thụy Điển. Là người nổi tiếng về lòng sùng kính đặc biệt này, thánh Bernadine Siena đã mô tả Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria bừng cháy bảy ngọn lửa, tượng trưng bảy hành vi yêu mến, biểu lộ qua bảy “lưỡi gươm” đã được ghi lại trong Thánh Kinh.

Vào thế kỷ XVII, các tác phẩm của thánh Gioan Eudes đã cổ võ rộng rãi lòng sùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, khi ngài liên kết lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria với lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh nhân là người đầu tiên cử hành lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria vào năm 1648. Ngài đã thiết lập dòng Đức Mẹ Đức Bác Ái để dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, và dòng Chúa Giêsu và Mẹ Maria (Eudists) để dâng kính Hai Thánh Tâm. Vào năm 1670, thánh nhân phát hành quyển Trái Tim Đáng Mến Mẹ Thiên Chúa để cổ động việc thiết lập một ngày lễ trong toàn Giáo Hội dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria. Tuy nhiên, thời kỳ ấy chưa phải là thời cơ chín muồi của việc sùng kính này.

Dường như Mẹ Maria đã đích thân can thiệp để xúc tiến ngày lễ này. Năm 1840, Đức Mẹ đã hiện ra với chị Justine Bisqueyburu và trao Áo Xanh với hình Trái Tim Vô Nhiễm bừng cháy, bị gươm sắc đâm thâu, trên có hình thập giá, và chung quanh có hàng chữ: “Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, xin cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử.” Đến năm 1855, bài kinh Thần Vụ và bài lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria đã được phê chuẩn cho các địa phương mừng kính.

Năm 1917, trong các bí mật được tiết lộ tại Fátima có hai bí mật liên quan đến Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria. Bí mật thứ nhất: “Mẹ hứa ơn cứu độ cho những ai có lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ. Những linh hồn ấy sẽ được Thiên Chúa yêu thương như những bông hoa được Mẹ trưng bày để tô điểm ngai tòa Người. Những linh hồn ấy sẽ chịu nhiều đau khổ, nhưng Mẹ sẽ không bao giờ bỏ rơi họ. Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ là nơi nương náu cho họ, là đường đưa họ đến với Thiên Chúa.” Bí mật thứ hai: “Các con đã nhìn thấy hỏa ngục nơi các tội nhân đáng thương bị trầm đọa. Để cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ trên trần gian này. Nếu những điều Mẹ nói với các con được người ta thực hiện, nhiều linh hồn sẽ được cứu thoát và thế giới sẽ có hòa bình.”

Những cuộc hiện ra của Đức Mẹ tại Fátima, đặc biệt là yêu cầu hiến dâng nước Nga cho Trái Tim Mẹ, đã góp phần rất nhiều vào việc truyền bá lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria. Đến năm 1932, Đức Mẹ đã thúc đẩy lòng sùng kính ấy hơn nữa khi tỏ ra Trái Tim Mẹ trong cuộc hiện ra tại Beauraing.

Nhận thấy lòng sùng kính Trái Tim Mẹ Maria được lan truyền nhanh chóng, năm 1942, Đức Pius XII đã hiến dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria. Đến năm 1944, ngài thiết lập lễ kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, và năm 1945, mở rộng lễ ấy ra khắp Giáo Hội.

Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria biểu lộ sự hiến thân chân thành và tận tuyệt để bước theo con đường của Con Mẹ thế nào, thì lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria cũng bao hàm một tinh thần hoàn toàn suy phục trước sự chăm sóc đầy tình từ mẫu của Mẹ Maria như vậy. Theo lời Mẹ Maria đã hứa, những ai can đảm phó mình cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ được hưởng một sự kết hợp mật thiết với Chúa Kitô, Đấng hiện diện đặc biệt trong Trái Tim của Mẹ Người.

LỜI KINH TRUYỀN THỐNG

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, tràn đầy tình yêu mến đối với Thiên Chúa và mọi người, con xin tận hiến toàn thân cho Mẹ. Con xin trao phó cho Mẹ phần rỗi của con. Với ơn phù trợ của Mẹ, ước chi con biết gớm ghét tội lỗi, biết yêu mến Thiên Chúa và người chung quanh, và đạt đến cuộc sống muôn đời với những người con yêu mến. Amen.

LỜI KINH MỚI

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con xin tận hiến mình con cho Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con xin trao phó linh hồn con cho Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con xin phó thác mình con cho sự chăm sóc của Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con đoan hứa sẽ bước theo sự hướng dẫn của Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con xin hiến mình để phụng sự Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con xin dâng trót đời con cho báu tàng của Mẹ là Thánh Tâm Chúa.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con yêu mến Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ.

Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, con yêu mến Mẹ bằng trọn vẹn trái tim con. Amen.

Nguồn: dongcong.net

Posted in Mẹ Vô Nhiễm | Leave a Comment »